Chủ Nghĩa Xă Hội: Một lư tưởng tiến bộ hay một công cụ của quyền lực?

 

Hoai Linh Ngoc Duong

 

 

Trong cuộc tranh luận chính trị hiện đại, có lẽ không có khái niệm nào bị hiểu lầm nhiều như chủ nghĩa xă hội. Đối với một số người, đó là giấc mơ về một xă hội công bằng hơn, nơi mọi người đều được tiếp cận giáo dục, y tế và cơ hội phát triển.

 

Đối với những người khác, đó là h́nh ảnh của Liên Xô, Mao Trạch Đông, Cu Ba hay những chế độ độc tài nhân danh nhân dân nhưng lại tước đoạt tự do của chính nhân dân.

 

Sự thật là chủ nghĩa xă hội không thể được hiểu bằng những khẩu hiệu tuyên truyền đơn giản. Muốn đánh giá nó, trước hết phải hiểu nó ra đời như thế nào.

 

Chủ nghĩa xă hội xuất hiện ở châu Âu vào đầu thế kỷ XIX, trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp đang làm thay đổi thế giới. Chủ nghĩa tư bản thời kỳ đầu đă tạo ra những bước tiến chưa từng có về năng suất lao động, sản xuất hàng hóa và phát triển công nghệ.

 

Nhưng cùng với đó là những mặt tối rất rơ ràng: công nhân làm việc 12–16 giờ mỗi ngày, lao động trẻ em phổ biến, điều kiện sống tồi tệ, không có bảo hiểm, không có hưu trí và gần như không có quyền lao động.

 

Chính trong bối cảnh đó, nhiều nhà tư tưởng như Robert Owen, Saint-Simon, Charles Fourier và sau này là Karl Marx đă đặt câu hỏi: nếu của cải xă hội ngày càng tăng th́ tại sao phần lớn người lao động vẫn sống trong nghèo khó?

 

Điểm tiến bộ quan trọng nhất của chủ nghĩa xă hội là nó buộc thế giới phải đối diện với vấn đề bất b́nh đẳng và trách nhiệm xă hội. Những khái niệm ngày nay được xem là b́nh thường như:

 

- bảo hiểm xă hội,

- lương tối thiểu,

- giới hạn giờ làm việc,

- nghỉ phép có lương,

- trợ cấp thất nghiệp,

- giáo dục công,

- y tế công,

- thuế lũy tiến

 

đều chịu ảnh hưởng ít nhiều từ các phong trào xă hội chủ nghĩa và công đoàn trong thế kỷ XIX và XX.

 

Nghịch lư là phần lớn những thành tựu này lại không được thực hiện thành công nhất ở các nước tự xưng xă hội chủ nghĩa, mà ở các nền dân chủ tư bản phương Tây.

 

Ngày nay, khi nhiều người nhắc đến “chủ nghĩa xă hội thành công”, họ thường đang nói đến mô h́nh dân chủ xă hội của các nước Bắc Âu như Sweden, Norway, Denmark hay Finland.

 

Những nước này không xóa bỏ thị trường, không xóa bỏ doanh nghiệp tư nhân và cũng không xóa bỏ quyền sở hữu cá nhân. Họ vẫn là các nền kinh tế tư bản năng động.

 

Tuy nhiên, họ sử dụng thuế khóa và chính sách công để tái phân phối một phần thành quả tăng trưởng nhằm giảm bất b́nh đẳng và bảo đảm mức sống tối thiểu cho mọi công dân.

 

Đây là điều rất khác với mô h́nh mà Liên Xô từng theo đuổi.

 

Liên Xô, Tàu Cộng thời Mao, Campuchia dưới Khmer Đỏ hay nhiều chế độ cộng sản thế kỷ XX tin rằng muốn xây dựng xă hội công bằng phải xóa bỏ sở hữu tư nhân và tập trung quyền lực kinh tế vào nhà nước.

 

Trong thực tế, điều này dẫn đến một hệ quả mà các nhà lư luận ban đầu không lường trước được: khi nhà nước nắm toàn bộ quyền lực kinh tế th́ nhà nước cũng nắm luôn quyền lực chính trị.

 

Khi không có báo chí độc lập, không có bầu cử cạnh tranh, không có ṭa án độc lập và không có cơ chế kiểm soát quyền lực, tầng lớp lănh đạo mới nhanh chóng h́nh thành. Khoảng cách giàu nghèo giữa dân thường và giới cầm quyền tuy mang h́nh thức khác nhưng không hề biến mất.

 

Đó là lư do nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Liên Xô hay Tàu Cộng không thực sự đạt đến xă hội xă hội chủ nghĩa như lư thuyết ban đầu mô tả.

 

Họ xây dựng các nhà nước độc đảng nhân danh chủ nghĩa xă hội, nhưng kết quả cuối cùng lại là sự tập trung quyền lực chưa từng có vào tay một nhóm nhỏ lănh đạo.

 

Điều đó không có nghĩa mọi ư tưởng của chủ nghĩa xă hội đều sai.

 

Ngày nay, khi trí tuệ nhân tạo, robot và tự động hóa đang thay thế ngày càng nhiều lao động của con người, câu hỏi mà các nhà xă hội chủ nghĩa thế kỷ XIX đặt ra lại trở nên thời sự hơn bao giờ hết: nếu năng suất lao động tăng hàng trăm lần nhờ công nghệ, ai sẽ được hưởng thành quả đó?

 

Trong một thế giới mà một số cá nhân có thể sở hữu tài sản hàng trăm hoặc hàng ngh́n tỷ đô la trong tương lai, trong khi hàng triệu người vẫn sống không nhà cửa hoặc không tiếp cận được chăm sóc y tế cơ bản, vấn đề công bằng xă hội sẽ tiếp tục là một chủ đề trung tâm của chính trị.

 

Do đó, tranh luận ngày nay không c̣n là “tư bản hay xă hội chủ nghĩa” theo nghĩa cổ điển nữa. Tranh luận thực sự là làm thế nào để kết hợp hiệu quả kinh tế của thị trường với công bằng xă hội và bảo vệ nhân phẩm con người.

 

Bài học lớn nhất của thế kỷ XX có lẽ không phải là chủ nghĩa xă hội hay chủ nghĩa tư bản hoàn toàn đúng hoặc hoàn toàn sai.

 

Bài học lớn nhất là bất kỳ hệ thống nào cũng có thể trở thành thảm họa nếu quyền lực không được kiểm soát.

 

Một nhà nước nhân danh công bằng nhưng không có dân chủ có thể trở thành độc tài.

 

Một thị trường nhân danh tự do nhưng không có luật lệ cũng có thể dẫn đến bất công cực đoan.

 

V́ vậy, câu hỏi quan trọng nhất không phải là một quốc gia tự gọi ḿnh là xă hội chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa.

 

Câu hỏi quan trọng nhất là: quyền lực có được kiểm soát hay không?

 

Lịch sử cho thấy chính sự thiếu vắng cơ chế kiểm soát quyền lực mới là nguồn gốc của phần lớn những bi kịch chính trị và xă hội mà nhân loại đă trải qua.

 

Lưu ư về mặt học thuật: việc gọi các nước như Liên Xô, Tàu Cộng, Việt Nam hay Cuba là “không phải xă hội chủ nghĩa” hay “là xă hội chủ nghĩa thật sự” là một cuộc tranh luận kéo dài nhiều thập niên giữa các nhà sử học và khoa học chính trị.

 

Điều gần như được đồng thuận rộng răi hơn là: các quốc gia này đă xây dựng những hệ thống nhà nước do một đảng lănh đạo, c̣n mức độ họ hiện thực hóa được các mục tiêu của học thuyết xă hội chủ nghĩa đến đâu là vấn đề vẫn c̣n gây tranh căi.

 

 

Hoai Linh Ngoc Duong

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính