Phi vụ Tuy Hoà

 

Hồ Viết Yên

 

 

Tối nay thật vui khi ngồi chung bàn với các bạn cùng khóa 7/68 Không Quân trong bữa tiệc Tiền Phi của tuần họp mặt sau 40 năm kể từ ngày rời ghế nhà trường, bỏ lại sách vở để bước vào đời sống Quân ngũ. Bữa ăn hôm nay tại nhà hàng ḅ bảy món Pagolac Thành phố Little Sàig̣n vùng Orange County, California, nơi được mệnh danh là Thủ đô của người Việt tỵ nạn Cộng Sản.


Trên 100 bạn khoá 7/68 KQ khắp nơi trên Thế Giới và gia đ́nh tề tựu về đây để tham dự ngày họp mặt đặc biệt này, cũng để gặp lại nhau cho bớt nhớ nhung sau những năm tháng xa cách. Không khí ồn ào, nhộn nhịp, tưng bừng, vui vẻ, mọi người vồn vă hỏi thăm nhau, ai cũng muốn chụp h́nh lưu niệm và sau cùng là cùng nhau nhập tiệc để thưởng thức những món ngon của vùng nắng ấm California.

Tôi ngồi kế Phạm xuân Trường đến từ San Jose California. Bạn Trường đă phục vụ tại Phi trường Cù Hanh Pleiku nhiều năm và có lẽ là đơn vị chính của anh từ ngày rời Quân trường cho đến ngày di tản. Sau khi nói chuyện, tôi được biết anh lập gia đ́nh cùng một người của xứ sương mù mà sách vở hay văn thơ thường diễn tả là thành phố “Đi dăm phút đă về chốn cũ”.


Cả bàn chúng tôi vui, ồn ào, cười, nói không ngưng về những kỷ niệm xa xưa, trong lúc thưởng thức những món ngon của nhà hàng, những ly rượu của Đặng Quỳnh trưởng Ban tổ chức mang tới đăi bạn bè, th́ Trường xoay sang tôi hỏi “Tôi nghe nói Yên bay phi vụ ở Tuy Ḥa vào những ngày giờ chót cuối năm 1975 phải không ? và Yên cũng chở nhiều người dân di tản từ Pleiku, Ban mê Thuột trên quăng đường từ Bồng Sơn về Tuy Ḥa phải không ?”. Tôi trả lời Trường là phải và bắt đầu kể về phi vụ ở Tuy Hoà mà tôi hănh diện đă làm được những ǵ trong tầm tay và khả năng của tôi.

 


Ngày đó tôi cố gắng hết sức để chở những người dân di tản chạy trốn Việt Cộng từ Pleiku và Ban mê Thuột về Tuy Ḥa. Ngược lại, Trường cũng kể chuyện về những người bên gia đ́nh vợ ra đi trong những ngày di tản đă phải chịu biết bao vất vả, cực nhọc, hiểm nguy để mong được đến phần đất Tự Do. Nhiều người cũng đă vĩnh viễn ra đi trên đoạn đường này. Trường tỏ ư muốn tôi viết lại phi vụ mà tôi đă bay hôm đó.


Sau nhiều ngày suy nghĩ và nhớ lại chuyện người chú ruột của vợ tôi cũng đă qua đời trong chuyến di tản đau thương và đầy nước mắt, tôi muốn đáp ứng lại sự mong muốn của Trường nên xin ghi lại câu chuyện này như một kỷ niệm trong đời bay bổng, nói lên nỗi khổ của người dân Việt trong hoàn cảnh chiến tranh, ḷng yêu Tự Do và cũng để hâm nóng lại lư tưởng của những ngày c̣n trẻ khi chúng tôi theo tiếng gọi của Tổ Quốc, gia nhập vào Quân đội để đóng góp vào sự bảo vệ lư tưởng Tự Do trên mảnh đất c̣n sót lại của miền Nam Việt Nam.


Tôi phục vụ Phi Đoàn 237 Biên Ḥa từ ngày Phi Đoàn mới thành lập vào tháng 10 năm 1970 cho đến tháng 8 năm 1974 th́ tôi hoán chuyển quân số ra Phi Đoàn 241 Phù Cát, và phục vụ PĐ241 cho tới ngày Phù Cát di tản.


Vài ngày trước khi PĐ241 rời Phù Cát, tôi trực tại Phi Đoàn th́ nhận được lệnh từ Hành Quân Chiến Cuộc (HQCC) cần phi hành đoàn của tôi cất cánh xuống Tuy Ḥa để nhận phi vụ. Những phi vụ tiếp tế cho quân bạn từ Tuy Ḥa đến Cung Sơn hay Phú Bổn là công việc thường xuyên của Phi Đoàn 241 nên không có ǵ lạ đối với tôi. Xe trực đưa phi hành đoàn chúng tôi ra phi đạo, sau khi kiểm soát máy bay xong chúng tôi cất cánh đi Tuy Ḥa cho phi vụ đầu tiên trong ngày trong tâm trạng b́nh thường của một ngày như mọi ngày.


Đến Tuy Ḥa đáp xuống điểm hẹn, tắt máy, quân bạn đến tiếp xúc với chúng tôi cho biết t́nh h́nh và cung cấp chi tiết cần thiết cho phi vụ. Trong lúc đó th́ anh em áp tải kiểm soát lại những kiện hàng đă được chuẩn bị sẵn sàng. Chúng tôi nhận nhiệm vụ chuyên chở vật liệu là những vỉ sắt dài để làm một cái cầu dă chiến bắt ngang qua ḍng sông phía Đông của quận Củng Sơn, hầu mở đường cho đoàn xe và những người dân di tản đang kẹt tại đó có thể băng qua được.


Chúng tôi quay máy, câu hàng và cất cánh bay về hướng Củng Sơn. Khi đến gần tọa độ thả hàng, chúng tôi liên lạc xin trái khói màu để biết chỗ thả vật liệu. Khi nh́n xuống để t́m kiếm khói màu th́ mới thấy cả rừng người đang đứng ở phía Bắc ḍng sông. Xa xa tiếng súng vẫn nổ, những đạn pháo kích của bọn Việt Cộng pháo theo bước chân của những người dân di tản mệt nhọc, đáng thương, vô tội này đă tạo nên những cụm khói và nh́n về ven sườn đồi th́ những cụm khói trắng thỉnh thoảng tỏa lên, tôi đoán quân bạn vẫn c̣n đang chiến đấu để ngăn chặn bọn Việt Cộng tiến gần tới đồng bào đang cố gắng chạy thoát ra khỏi tầm tay của chúng.


Thả hàng xong, trong lúc cất cánh để bay trở về Tuy Ḥa, từ trên nh́n xuống tôi thấy hàng ngàn con mắt của đồng bào ruột thịt đang trốn chạy Việt Cộng hướng mắt ngó theo tàu của tôi, nhưng v́ không có lệnh chở dân về cho nên tôi không dám rước. Trong suốt đường bay trở ra Tuy Ḥa, tôi cảm thấy lương tâm cắn rứt, lư trí của tôi bị dằn vặt và khó chịu. Nh́n và nghĩ đến những người di tản đă bỏ nhà cửa, gia tài mà công sức của cả cuộc đời cực nhọc làm ăn, dành dụm để ra đi và ngày hôm nay sự nguy hiểm có thể xảy đến cho bản thân và gia đ́nh của họ khi phải băng đồi, vượt núi, chịu bao cảnh khó khăn để mong sao đến được bến bờ Tự Do, th́ ḿnh nỡ ḷng nào cúi mặt làm ngơ.


Tôi quyết định gọi máy liên lạc Quân Đoàn xin cho chở dân về, người trực phía Quân Đoàn nhắc lại nhiệm vụ của tôi là chở vật liệu để hoàn tất cây cầu càng sớm càng tốt để xe và người có thể vượt qua ḍng sông, c̣n chuyện rước dân th́ không có trong phi lệnh, tùy ư bạn. Câu trả lời càng làm cho tôi bối rối, khó tính hơn. Không biết ḿnh có nên rước dân không ? Nếu ḿnh tự ư làm có chuyện ǵ th́ ḿnh sẽ chịu trách nhiệm và lănh đủ, c̣n không chở dân ra th́ khó chịu với lương tâm. Tôi suy nghĩ suốt đoạn đường chở hàng vào Cung Sơn. Không có lệnh mà làm th́ thế nào cũng lănh củ (tù), nhiều lúc có thể bị ra hội đồng kỷ luật, có thể bị lột lon. Nhưng không rước dân th́ làm sao đối diện với lương tâm ḿnh, khi những người dân di tản đáng thương, mỏi mệt đó đang mong chờ tôi ra tay giúp đỡ. Cuối cùng tôi quyết định sẽ rước đoàn dân này về Tuy Hoà, dầu phải chịu h́nh phạt nào... Nhưng để tránh cho anh em phi hành đoàn bị liên lụy với quyết định của tôi, tôi hỏi ư kiến coi anh em phi hành đoàn nghĩ thế nào ? Tất cả đồng ư rước dân.


Với kinh nghiệm trong những lần rước 10.000 dân từ An Lộc về Lai Khê, vào mùa hè đỏ lửa 1972. Tôi căn dặn từng người trong phi hành đoàn rất kỹ, từng việc phải làm, không mở cửa hông và không người nào trong Phi Hành Đoàn rời phi cơ, nhất là anh Cơ Phi th́ không xuống đất khi mở cửa Ramp như thường lệ. Chinook có thể chở 45 người lính trang bị đầy đủ súng ống, đạn dược để tác chiến, c̣n nếu chở dân cố gắng th́ có thể chở từ 60 đến 70 người, tôi bảo anh em xếp 2 hàng ghế bên hông tàu lên và khi họ lên chỉ đứng chứ đừng để họ ngồi. Chúng tôi chuẩn bị sẵn sàng để chở dân về.


Thả hàng xuống chỗ quân bạn muốn, xong tôi bay tới, bay lui để lựa 1 toán có khoảng 60 tới 70 người, đáp xuống và chờ cho họ lên tàu. Nhưng tôi đă phạm 1 lỗi lầm lớn là đoàn dân ở đây không có ai Chỉ huy ai cả, khác với những lần rước dân trước kia được những người lính giữ an ninh băi đáp điều hành, xắp xếp, cho lên tàu theo thứ tự. Giờ đây th́ tàu tôi bị nhiều toán người ở khắp mọi nơi tràn tới, bu đầy chung quanh và leo trèo lên quá đông !


Tôi đành phải bốc tàu lên khỏi mặt đất mà cửa sau (ramp) vẫn chưa đóng được. Anh Cơ Phi hoảng hồn báo cho tôi biết c̣n rất đông người bu chung quanh tàu và cửa ramp nên anh không thể đóng ramp được. Tôi giữ máy bay cách mặt đất khoảng 5, 6 feet đợi vài phút cho những người bu quanh mỏi tay rớt xuống. Tôi hỏi anh Xạ Thủ và Áp Tải ngó 2 bên hông và nh́n xuống bánh máy bay xem coi c̣n có ai bu không ? Hai anh báo c̣n người. Tôi thấy không thể đứng đây quá lâu nên tôi quyết định đem tàu ra ḍng sông nhúng nước với hy vọng những người bu bánh máy bay hoặc c̣n bám phía ngoài biết được ư định của chúng tôi. Khi máy bay đến giữa ḍng sông gần 1 cồn cát, tôi xoay đít tàu về phía cồn và từ từ cho con tàu xuống nước và để cho những người đó có thể bơi vào bờ cát dễ dàng v́ ḍng sông không sâu lắm và mục đích là họ lên cồn cát th́ chuyến tới tôi có thể đáp rước họ dễ dàng hơn. Sau khi thấy 4, 5 anh thanh niên lên cồn cát, tôi đáp xuống 1 cồn cát kế bên và nói anh Xạ Thủ mở cửa bên hông và leo xuống kiểm soát coi c̣n có ai bu ngoài tàu không ? Đến khi biết chắc không c̣n ai bu nữa tôi bắt đầu cất cánh bay về Tuy Ḥa.


Thật sự tôi không biết được số người ở trên tàu là bao nhiêu, nhưng 1 điều tôi biết chắc là máy bay của chúng tôi cất cánh lên không nổi, chỉ lên được 20 feet trên mặt ḍng sông và tốc độ chỉ được 50 knots, cố gắng bay nhanh hơn th́ mất cao độ. Tốc độ và cao độ đều không hội đủ điều kiện an toàn trong trường hợp khẩn cấp nhưng trong hoàn cảnh bây giờ th́ chỉ cố gắng lết theo ḍng sông mà về và nếu có bị bọn Việt Cộng nằm vùng đâu đó bắn th́ cũng đành chịu, và chấp nhận như số phận an bài. Khi về đến Tuy Ḥa tôi chọn phi trường bỏ trống có phi đạo dài để hy vọng đáp được. Số người quá đông và quá nặng th́ chỉ có cách làm Running landing. Hai bánh sau chạm đất th́ tôi giảm tốc độ rồi từ từ hạ 2 bánh trước, đến cuối phi đạo th́ phi cơ dừng lại. Anh em hạ ramp để cho người xuống và đồng thời cũng đếm số người già, trẻ, lớn, bé và báo cho tôi biết là hơn 140 người.


(Tôi xin được mở ngoặc nơi đây để quí vị nào đọc bài này là nạn nhân mà tôi nhúng nước hoặc quí vị nào có mặt lúc đó hoặc nghe kể lại th́ xin thông cảm và hiểu cho chúng tôi. Vạn bất đắc dĩ chúng tôi mới phải làm như vậy là để bảo vệ mạng sống của những người bu theo tàu. Khi bay sức gió sẽ đẩy quí bạn đó rớt hoặc khi về đến Tuy Ḥa chúng tôi làm Running landing th́ quí vị đó sẽ bị rớt, bị thương và có thể bị chết.)


Lấy kinh nghiệm chuyến đầu, cũng như để tránh cảnh hỗn loạn xảy ra, những chuyến sau đó tôi chỉ đáp và đón những toán người rải rác từ 10 tới 15 người cho đến khi tàu đủ số người th́ tôi bay về Tuy Ḥa. Tiếp tục chở vật liệu vào cho quân bạn làm cầu th́ tôi tiếp tục rước dân ra cho đến chiều. Cây cầu hoàn tất được phần nào và nhiều toán người đă qua được bên kia sông bằng cây cầu dă chiến vừa được dựng lên. Trên đường bay về khi quan sát khu vực đồi núi chung quanh tôi để ư thấy có nhiều toán 5, 7 người đi lạc rải rác ở các sườn đồi phía Bắc của gịng sông, mà trời th́ bắt đầu xế chiều, suy nghĩ đến những điều mà họ có thể sẽ gặp nguy hiểm khi màn đêm buông xuống, rất dễ đi lạc đường, và chắc chắn sẽ gặp khó khăn hơn là những người đang ở dọc theo ḍng sông. Nghĩ tội nghiệp cho họ, nên tôi tính cách để rước họ về.


Đáp sườn đồi cao đầy cây cối và đá lớn rất khó, nhưng đây là nghề của tôi từ lúc c̣n ở PĐ 237 đáp bằng một hay hai bánh sau lên trên những tảng đá dọc theo triền đồi, mở cửa ramp và kéo từng người lên, với kinh nghiệm sẵn có khi phải đáp kiểu này mà tôi đă thực hiện trong nhiều năm khi c̣n ở Phi Đoàn 237 Biên Ḥa, mỗi khi đáp đỉnh núi Bà Đen vùng Tây Ninh, để tiếp tế hoặc chở lính về, luôn luôn phải đáp bằng 2 bánh sau trên những tảng đá và đợi cho lính lên, xuống, nên cũng không có ǵ trở ngại. Chỉ kẹt là khi thấy những người đang leo trèo ở sườn đồi thẳng đứng, chật hẹp mà cố gắng rước th́ nhiều lúc cánh quạt gần chém những cành cây cao chung quanh.


Trời về chiều lại càng khó rước những toán người này hơn và tốn nhiều th́ giờ hơn v́ mỗi lần đáp bằng hai bánh sau th́ cần đến sự giúp đỡ, điều chỉnh của các anh em Cơ Phi, Xạ Thủ, và Áp Tải. Sau khi chọn và đáp được trên một tảng đá th́ phải chờ đợi khá lâu cho những người di tản leo lên, cũng tội cho họ v́ đă đi bộ nhiều ngày, phần mệt mỏi v́ leo trèo và giờ đây c̣n bị sức gió đẩy từ cánh quạt Chinook làm cho họ té xuống rồi lại ráng trèo lên.


Trời càng mờ tối th́ càng khó khăn, nguy hiểm và thời gian rước mỗi toán 5, 10 người thật lâu. Không c̣n bao lâu nữa th́ Trời sẽ tối đen mà số người đi lạc trên triền đồi đó vẫn c̣n đông. Nhưng Thượng Đế cảm thông với sự khó khăn và ḷng mong ước của chúng tôi. Tôi thấy một chiếc trực thăng UH1 xuất hiện và đang bay trên vùng, tôi bật qua tầng số Guard và liên lạc th́ biết được là chiếc trực thăng UH1 này từ Phi Đoàn 219 ở Nha Trang, nếu trí nhớ tôi c̣n tốt và không lầm th́ qua vài câu đối thoại tôi nhận ra đó là Tr/uư Nguyễn văn Biên cũng xuất thân từ K7/68KQ là 1 người bạn cùng khoá. Tôi nhờ bạn Biên rước người di tản ở triền đồi v́ UH-1 nhỏ, dễ xoay trở, nên có thể rước được những toán người này đưa xuống các cồn cát nhanh chóng. Phi Hành Đoàn UH1 nhận lời giúp đỡ và làm nhiệm vụ rước người từ những sườn đồi đem thả họ xuống cồn cát giữa ḍng sông. Chinook chúng tôi trở vào từ Tuy Ḥa th́ số người ở cồn cát thường lên đến 60, 70 người là vừa đủ cho 1 chuyến về Tuy Ḥa. UH-1 và Chinook cùng làm việc với nhau cho đến khi Trời tối, không c̣n thấy đường để có thể đáp và rước được những người di tản c̣n lang thang ở những sườn đồi th́ bạn Biên cáo biệt chúng tôi rời vùng để về Nha Trang. Tôi cũng quyết định chấm dứt phi vụ để trở về Phù Cát.


Sau một ngày mệt mỏi, chúng tôi tắt máy, nhờ quân bạn canh giữ máy bay và chở chúng tôi ra phố kiếm ǵ ăn trước khi bay về Phù Cát. Đang ngồi đợi bữa ăn tối dọn lên th́ 1 Sĩ quan Bộ binh tới và yêu cầu tôi chở một số thương binh về Nha Trang. Tôi nói chúng tôi không có lệnh đi Nha Trang và tôi không thể nào làm việc này được. Nhưng vị Sĩ quan này lại yêu cầu tôi chờ đợi cho cấp trên của anh liên lạc với Không Quân xin lệnh cho tôi chở số anh em thương binh về Nha Trang. Anh nói thêm rằng những thương binh bị thương rất nặng và ở đây không có đủ phương tiện và nhân lực chữa trị cho họ. Tôi không biết phải làm sao nên trả lời anh là sẽ đợi cho đến lúc ăn xong bữa cơm tối và nếu có lệnh th́ sẽ tính.


Khi chiếc xe Jeep chở chúng tôi về băi đáp, quang cảnh không xa nơi máy bay chúng tôi đậu, thay vào những kiện hàng mà chúng tôi đă chở hết vào Cung Sơn bằng những thương binh nằm la liệt dưới đất. Họ quằn quại, đau đớn, rên siết v́ những vết thương trên thân thể mà vẫn chưa được băng bó. Nh́n không khác ǵ băi chiến trường, thấy máu đổ, da thịt tả rơi cùng những khuôn mặt đau đớn, khốn khổ của những người đồng đội, họ đă anh dũng chiến đấu, hy sinh để cố gắng bảo vệ từng tất đất của quê hương. Tôi không c̣n đủ can đảm và cũng không có một lư do nào để từ chối đưa họ về Nha Trang.


Tôi bảo anh em phi hành đoàn hạ cửa máy bay và giúp đỡ anh em bộ binh khiêng những anh em thương binh lên trên sàn Chinook để tránh bớt gió, bụi, đất, cát, bay vào những vết thương của họ khi những chiếc trực thăng UH-1 liên tục chở thương binh về đáp. Tôi cho người Sĩ quan Bộ binh biết là cứ tiếp tục liên lạc với pḥng HQCC Phù Cát, nhưng dù được chấp thuận hay không, tôi sẽ chở hết số anh em thương binh về Nha Trang tối nay. Chờ chuyến cuối cùng UH-1 về đáp và nguời thương binh cuối cùng lên tàu mà vẫn chưa nhận được lệnh đi Nha Trang.


Tôi quyết định cất cánh bay về Nha Trang. Anh em cho biết có 36 thương binh trên tàu, họ bị thương rất nặng và chỉ được băng bó qua loa. Hầu hết những người thương binh này đều nằm một chỗ và không thể chuyển ḿnh được. Suốt thời gian bay về Nha Trang, tôi mang tâm trạng nửa vui, nửa buồn và suy nghĩ đến những điều không may mắn có thể xảy đến cho tôi. Những h́nh phạt mà tôi có thể lănh qua việc làm không có lệnh. Nhưng vạn bất đắc dĩ th́ tôi mới phải chấp nhận làm một việc như thế nầy. Tuy vậy, khi đối chiếu với lương tâm th́ tôi thấy không có ǵ ân hận, dù có nhận bất cứ h́nh phạt nào, chỉ mong anh em phi hành đoàn thông cảm nếu bị phạt lây.


Đến Nha Trang th́ Trời đă quá khuya, từ trên nh́n xuống Nha Trang về đêm vẫn đầy ánh sáng đèn, yên tĩnh, đẹp và không có chút không khí chiến tranh. Nha Trang đang ngủ yên, thoải mái, vô tư, không biết ǵ về những người con yêu của Tổ Quốc đă chấp nhận hy sinh xương máu bảo vệ từng tất đất và sự b́nh an cho đồng loại mà giờ đây đang nằm đau đớn, rên siết trên Chinook của tôi.

Đến gần, tôi liên lạc và xin chỉ thị đáp. Tôi cũng liên lạc xin Quân Đoàn cho xe cứu thương đến trạm Hàng Không Nha Trang để chở những thương binh về Quân Y Viện. Đáp xuống, taxi vào Trạm Hàng Không, lựa chỗ đậu cho thuận tiện v́ chúng tôi phải ở lại qua đêm. Sau khi cánh quạt đă ngừng th́ chúng tôi lần lượt bước ra khỏi máy bay. Giờ này đă hơn 11 giờ đêm, xe cứu thương chưa đến để chở những thương binh về Quân Y Viện. Trong lúc chờ đợi, tôi hỏi anh em phi hành đoàn có nơi nào ngủ tạm qua đêm nay không ? Anh em trả lời tự lo được. Tôi để anh em đi và hẹn gặp lại vào lúc 8 giờ sáng mai.


Tôi th́ chưa biết ngủ ở đâu, ra ngoài th́ quá khuya rồi, vả lại cũng không có phương tiện di chuyển, c̣n ở đây th́ chưa biết phải ngủ nơi nào. Tôi vẫn nghe bạn bè cùng khóa 7/68KQ nói là Tr/uư Phạm minh Hoa (mà khóa 7/68 KQ đặt cho biệt danh là Hoa Number one) là trưởng trạm Hàng Không Nha Trang nên tôi nghĩ có thể liên lạc với Hoa và ngủ đỡ tại hậu trạm đêm nay, c̣n kẹt lắm th́ ngủ trên Chinook cũng được v́ giờ này đă khuya mà thời tiết NhaTrang chỉ hơi lành lạnh. Tôi yên ḷng ngồi đợi cho xe cứu thương chở thương binh cho đến chuyến cuối cùng. Tôi đóng cửa máy bay và để giữ cho máy bay được an toàn tôi thường gỡ b́nh điện, sau đó tôi đi vào hậu trạm.


Tôi hỏi thăm người lính trực hậu trạm về Tr/u Hoa th́ anh cho biết Tr/u Hoa ở trên lầu phía sau hậu trạm. Lâu lắm rồi tôi không gặp bạn Hoa có thể từ ngày ra khỏi trường Bộ Binh Thủ Đức về tŕnh diện bộ Tư Lệnh Không Quân cho đến ngày hôm nay. Sau bao nhiêu năm mỗi đứa 1 phương trời, mỗi đứa mang 1 trách nhiệm, không mấy khi có dịp gặp được nhau, không biết bạn Hoa có c̣n nhận ra tôi không ? Tôi lên lầu, gơ cửa, 1 người lính mở cửa, tôi tự giới thiệu là bạn của Tr/u Hoa và muốn ngủ lại đây đêm nay, anh để tôi vào và cho biết là Tr/u Hoa đi ăn tối chưa về (Tôi nghĩ trong bụng ăn tối gź mà lâu dzữ dzậy...).

Vào pḥng tôi thấy tuy nhỏ nhưng ngăn nắp và đầy đủ tiện nghi. Thấy có máy lạnh tôi bèn mở lên, sau đó đi tắm rồi leo lên giường ngủ. Giấc ngủ chưa kịp tới th́ tôi nghe có tiếng cửa mở, sau đó tiếng Tr/u Hoa hỏi người lính giọng hơi nhè nhè (Đặc biệt đệm trước bằng 2 chữ Đan Mạch) thằng nào nằm giường tao vậy ? Người lính trả lời là Đ/uư Yên, bạn của ông. Bạn Hoa giở tấm mền che mặt tôi, cúi xuống ngó sát mặt, tôi v́ mệt nên làm bộ ngủ, hy vọng mọi chuyện để sáng mai rồi tính. Tôi không biết bạn Hoa tối đó ngủ ở đâu ? Chỉ biết sáng hôm sau khi thức dậy, người lính cho tôi biết là Tr/u Hoa đang đợi tôi dưới hậu trạm để ăn sáng. Sau 1 ngày làm việc mệt nhọc, 1 giấc ngủ an b́nh, thoải mái, và 1 bữa ăn sáng thật ngon với bạn Hoa trong t́nh anh em khóa 7/68KQ, đă đưa tôi trở lại với những phi vụ mới, của 1 ngày mới trong hoàn cảnh bi thương của đất nước.

Cảm ơn bạn Hoa và t́nh bạn thấm thiết của các bạn Khoá 7/68KQ.



Hồ Viết Yên

K7/68KQ - PĐ237 / PĐ241 Chinook

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính