Ở tù với Trần Dạ Từ và Bạn Hữu

 

Hồ Văn Đồng

 

 

Hồ Văn Đồng là một nhà báo lớn của miền Nam. Sinh tại đất Quảng, học tại Huế, lập nghiệp tại Saigon, ông từng là tổng thư kư, chủ bút, chủ nhiệm  nhiều nhật báo danh tiếng của miền Nam. Năm 1950, ông là người sáng lập văn pḥng Việt Tấn Xă tại Hà Nội. Những năm sáu mươi, ông là người sáng lập, tổng thư kư Nghiệp Đoàn Kư Giả Nam Việt, chủ tịch Hội Chủ Báo. Ông cũng là nhà báo duy nhất của Việt Nam có hai năm tu nghiệp báo chí tại đại học Stanford, tham gia sinh hoạt báo chí quốc tế và là Phó Chủ Tịch Liên Đoàn Báo Chí Thế Giới đặc trách khu vực châu Á. Sau tháng Tư 1975, ông hai lần bị Cộng Sản bắt giam, cộng chung 12 năm. Năm 1989, sau khi ra khỏi nhà tù cộng sản, ông vượt biển, định cư tại Virginia từ 1989, tiếp tục viết b́nh luận cho nhiều báo Việt ngữ tại hải ngoại. Bài viết sau đây của ông được trích từ sách  “Quê Hương Bạn Hữu Tù Đầy” do Trung Tâm Độc Lập, Stuttgard, Cộng Hoà Liên Bang Đức ấn hành nhân “Ngày Văn Nghệ Sĩ Việt Nam 1990” được tổ chức tại Stuttgard. Nhà báo Hồ Văn Đồng bệnh nặng từ giữa năm 2005 và từ trần sau đó, hưởng thọ 83 tuổi.


*  *  *


Ngày 3 tháng Tư, 1976, khi công an Cộng sản mở chiến dịch hốt gọn văn nghệ sĩ Saigon, tôi đang ở Phan Rang, ngụp đầu trong một cánh đồng mía.

 

Là một anh nhà báo về già, từ nhiều năm trước 1975, sau khi đóng cửa báo Quyết Tiến, sang nhượng nốt cơ sở nhà in ở đường Vơ Tánh cho anh Đặng Văn Bé –chủ nhật báo Thách Đố-, tôi thực sự về vườn, hiểu cả theo nghĩa đen: Ra Phan Rang, tự tay tổ chức trồng dăm ba mẫu mía, vật lộn với mấy ḷ nấu đường, mỗi tháng chỉ về thăm nhà ở Saigon vài ngày.

 

Khi Cộng sản chiếm Saigon, dù có chung tâm sự với anh em làng văn làng báo cũ, tôi vẫn cười cười, biểu họ: “Moa đâu c̣n là nhà báo. Moa là nông dân. Lê Nin kêu nông dân là liên minh vững chắc của giai cấp tiên phuông. Mao chủ tịch c̣n sửa lưng cả Lê Nin, kêu nông dân là thành phần cốt cán. Các toa phởn phơ ở thành phố quen hư thân mất nết, ngán đi kinh tế mới. Moa đă tự giác đi kinh tế mới lao động sản xuất từ khuya rồi. Nông dân trăm phần trăm, c̣n ngán chó ǵ nữa.”

 

Ngày 9 tháng 3, khi tôi xách cái bị lát nông dân từ Phan Rang về Saigon thăm nhà, công an Cộng sản đă ŕnh sẵn từ bao giờ, c̣ng tay cái rụp.

 

Tại sở công an thành phố, trước là trụ sở Nha Cảnh sát đô thành, đường Trần Hưng Đạo, khi cánh cửa sắt nặng nề của pḥng giam mở ra, tôi nghe nhiều tiếng cười. Một giọng nói vui vẻ vang lên: “A, Anh Đồng đen đây rồi. Đi đâu giờ này mới chịu ṃ tới. Nhờ anh tí, bắt anh em chờ măi.”

 

Vẫn in hệt lối nói quen thuộc trong làng báo miền Nam, thường dành cho anh em tới trễ trong một buổi họp mặt thân mật. Chỉ khác chút xíu: cuộc họp mặt lần này đông đảo chưa từng thấy, mà lại là họp mặt trong nhà tù Cộng sản.

 

Pḥng giam vuông vắn mỗi bề khoảng 5 thước, lố nhố năm sáu chục h́nh  người, gần như nêm cứng, chen chân muốn không lọt.

 

“Lại đây nè, cha nội. Xớ rớ chi vậy.”

 

Giọng nói quen thuộc lại vang lên. Một anh chàng thấp lùn phe phẩy quạt giấy, mặt mũi vêu vao, đang ngoác miệng ra cười, vẫy vẫy về phía tôi. Tôi nhận ra anh bạn phóng viên Anh Quân. Bên cạnh là anh Doăn Quốc Sỹ, anh Đằng Giao, anh Trần Dạ Từ… Pḥng giam nêm chặt kiểu cá ṃi đóng hộp, dưới mái tôn nóng điên người, tất cả đều cởi trần, mồ hôi nhễ nhại. Tôi chào tất cả và nói:

“Đông đảo phe ta cả, vui quá há.”

 

Đáp lời tôi, anh Doăn Quốc Sỹ cười hiền lành:

“Vui thật ông ạ. C̣n Khô Vinh đại sư nữa ḱa.”

 

Tôi nh́n theo mắt anh Sỹ hướng về một góc pḥng. Trên bệ cao cầu tiêu chung trong góc, tôi nhận ra c̣n có thêm anh Nguyễn Mạnh Côn. Khô Vinh đại sư là tên một nhân vật tiểu thuyết của Kim Dung. Anh em gán cho anh Côn biệt danh này trúng quá v́ anh vốn gầy g̣, người nhỏ thó, xương xẩu giống hệt một nhà tu khổ hạnh. Ngồi trần trụi trên cầu tiêu, Khô Vinh đại sư nh́n tôi cười cười, ra dấu chào.

 

Pḥng giam chúng tôi ở, được gọi bằng một tên hoa mỹ là “Tập thể hai.” Tại sở công an, c̣n có khu A, khu B, tập thể một, pḥng giam nữ, và các pḥng biệt giam… Thời điểm này, không kể khám Chí Ḥa, Đề lao Gia Định, trụ sở các phường quận, nghe nói bin đinh Đại Lợi và nhiều ao ốc, nhà cửa khác trong  thành phố, cũng đều đă biến thành  trại giam. Số văn nghệ sĩ bị giam ở nhiều nơi, nhưng đông nhất vẫn là Đề lao Gia Định cũ, (Nay được gọi bằng một bí số: T20.) và ngay tại Sở công an.

 

Khi công an Cộng sản bắt văn nghệ sĩ, nghe kể, họ bắt luôn vợ chồng Đằng Giao - Chu Vị Thủy và cháu nhỏ mới sinh bẩy ngày. Chị Thủy là con gái nhà báo Chu Tử. Có anh em nói, danh sách bắt bớ này phần chính do Vũ Hạnh đề nghị. Vũ Hạnh thời trước, viết phê b́nh văn nghệ cho báo Bách Khoa theo lối hiện thực xă hội kiểu Cộng sản, rồi nằm trong tờ Điện Tín của nhóm Lư Quí Chung, chuyên viết những truyện kháng chiến đường rừng. Báo Sống của anh Chu Tử có hồi chỉ trích đích danh Vũ Hạnh là Cộng sản nằm vùng.

 

Khi tôi bị bắt vô sở công an, chị Chu Vị Thủy đă được cho mang cháu nhỏ về quản thúc tại gia. Trong số văn nghệ sĩ nằm tù Cộng sản, chỉ có chị Nhă Ca là phụ nữ duy nhất. Suốt thời kỳ ở sở công an, chị bị nhốt cát sô. Anh Nguyễn Mạnh Côn cười, bảo tôi: “Con mụ dữ quá.”

 

Tuy cười, anh rất quan tâm việc này.

 

Một bữa, sau buổi “đi làm về”, có nghĩa là bị gọi đi hỏi cung, khi trở về pḥng, anh kể với chúng tôi: “Moa bảo họ là bao nhiêu tai to mặt lớn ở miền Nam này, đâu có người nào cách mạng bắt đi tù cả chồng lẫn vợ như trường hợp Trần Dạ Từ và Nhă Ca. Nhốt bà mẹ của 6 đứa con nhỏ, có đứa c̣n chập chững tập đi, th́ vẻ vang ǵ. Nói thật, bà ta chỉ là một bà viết văn b́nh thường, chẳng hiểu biết ǵ về chính trị. Nếu sách bà ta có chống cộng, ấy là do tôi mà có. Thả bà ta về, rồi muốn tôi làm trâu làm chó ǵ cũng được”.

 

Anh Côn hút thuốc phiện lâu năm, đang bị vật lên vật xuống. Nhiều phen phải cấp cứu. Một buổi tối, công an mở cửa kêu anh “đi làm việc”. Vài phút sau đă thấy anh trở vô. Mọi người hỏi sao lẹ vậy, anh đáp: “Tên X. gọi ra. Hắn đưa cho moa một cục, nói là cách mạng chiếu cố. Moa trả lại hắn, bảo tôi không cần nữa. Chỉ có vậy thôi.” Tôi c̣n nhớ rơ, có người hỏi “cục ǵ?”. Anh Anh Quân, cũng là dân từng nằm bàn đèn thuốc phiện, nháy mắt: “Cái ông này. Cục vàng chớ ǵ nữa.” Anh Côn bấm vô đầu ngón tay út: “Bằng chừng này này”. Thấy Anh Quân suưt soa tiếc rẻ, tôi nói với anh Côn: “Sao anh không cầm đại vô, rồi cho Anh Quân nó phê cho coi”.

 

Người tù được cử làm trưởng pḥng, anh Hoàng Phú Lâm, gia đ́nh chủ Đệ Nhất Khách Sạn, cũng là một quân nhân trong văn pḥng ông Đại tướng Cao Văn Viên ở Tổng tham mưu. Anh Lâm từng chính mắt thấy ông bà Viên kính nể anh Côn như ông thầy, nên rất trọng anh Côn. Cả pḥng, đối với mấy anh em nhà văn, đều rất quí mến.

 

Từ lúc hết bị thuốc phiện hành, anh Côn tươi tỉnh hơn, tṛ chuyện vui hơn. Các bạn trẻ trong pḥng giam thường ngồi quanh anh, để nghe anh kể những truyện khoa học giả tưởng rất hấp dẫn. Trong tù, có ǵ đâu để ăn, anh cũng nói ăn ngon miệng hơn hồi ở nhà.

 

Mấy năm trước, Nguyễn Mạnh Côn trở thành nhà thầu khoán có hạng trong quân đội. Anh Trần Dạ Từ đă thu xếp xong từ lâu, việc anh Phạm Duy nhường lại ngôi nhà cũ (một “dinh cơ” đồ sộ trong khu Chu Mạnh Trinh, Phú Nhuận) cho gia đ́nh anh Côn. Năm 1975, cùng với Trần Dạ Từ, “nhà thầu” này bao dàn việc ấn loát binh thư cho Tổng cục quân huấn do tướng Nguyễn Bảo Trị làm Tổng cục trưởng. Riêng dịch vụ này đă lên tới cả trăm triệu bạc, lại c̣n đang khởi công đại tu bổ Nghĩa trang quân đội ở xa lộ. Khi bắt anh Côn và anh Từ, công an cộng sản dùng cả đoàn xe chở đầy  nhóc toàn sách binh thư chiến thuật, dạy đủ món, từ thủy lôi tới tổ chức biệt kích. Công an nghe đâu c̣n thu cả lô quĩ phiếu mấy chục triệu bạc tiền in binh thư chưa kịp lănh ở nhà anh Trần Dạ Từ, hèn chi họ chả cho là ghê lắm. Các “đồng chí” làm sao tưởng tượng nổi, ở miền Nam, đây chỉ là việc làm ăn b́nh thường, người thầu khoán vớ vẩn nào cũng có thể như vậy.

 

Trong tù, nhiều khi vui chuyện có lần anh Nguyễn Mạnh Côn kể: “Một lần hai anh em vô Tổng tham mưu thăm Trung tướng (Nguyễn Bảo) Trị, khi ra tớ bảo Từ hỏng rồi cậu ạ. Một anh thi sĩ, một anh nhà văn, mở miệng ra toàn là thấy tiền với bạc. Xe vô một chỗ thế này th́ anh em lính canh phải đứng đón, mở cửa. Vậy th́ c̣n chó ǵ là thi sĩ với nhà văn nữa. Cứ điệu này, chắc tiêu tùng luôn.”

 

Anh nói thêm, một cách nghiêm chỉnh:

“Cái vụ anh em ḿnh ai nấy sạch sẽ vô tù, không chừng là vớ bở to đấy các cậu ạ. Tin lời tôi đi. Biết đâu, nhờ đó mà nhà văn nhà thơ tái sinh.”

 

Anh Doăn Quốc Sỹ kết luận:

“Mèo lại hoàn mèo”.

 

Chúng tôi đều cười, mừng cho sự tỉnh táo lạc quan của bạn, khi bạn đă chia tay được với nàng tiên nâu.

 

Nhưng cũng ngay thời gian ở sở công an, anh Côn bắt đầu nói về cái chết. Một bữa, anh bàn với tôi:

“Lần này, sống mà về được, hai anh em ḿnh phải xuống Thủ Đức, t́m một khu đất riêng, làm sẵn một “sanh phần” cho bọn ḿnh, ông ạ.”

 

Sanh phần là ngôi mộ làm sẵn. Thấy chúng tôi bàn hoài chuyện trồng cây, đào huyệt cho ḿnh, anh Trần Dạ Từ gạt đi, kêu là thời của bọn đỏ mà tính chuyện vớ vẩn.

 

Anh Côn nói với anh Từ:

“Không vớ vẩn đâu, cậu ạ. Đỏ đen ǵ cũng chỉ là nhất thời. Thời của họ cũng chẳng lâu lắt ǵ. Các cậu sẽ được nh́n thấy nó phải xụp đổ như thế nào. Ở tuổi của Từ, điều này chắc như đinh đóng cột. Thế hệ các cậu, chính cậu, sẽ phải góp phần làm cho nó đổ, rồi rán mà gánh vác lấy việc thu dọn sau đó. C̣n tớ với ông Đồng đen, bọn tớ già rồi, xong phần ḿnh rồi. Bọn tớ nhất định cứ đi t́m đất làm sanh phần như thường.”

 

Anh Nguyễn Mạnh Côn là tác giả cuốn “Chống Mác xít”, nhiều năm phụ trách phần b́nh luận phát thanh bằng tiếng Pháp của đài Saigon. Anh rất giỏi toán học, khoa học, anh viết văn, viết báo h́nh như bằng thứ chữ nghĩa chính xác của nhà toán  học nhiều hơn là chữ nghĩa kiểu nghệ sĩ. Sau hiệp định Paris, anh Côn cho phát hành cuôn sách dầy cộm, mang tên “Ḥa B́nh, nghĩ ǵ, làm ǵ?” Những người từng chỉ huy nghành chiến tranh chính trị, cao đẳng quốc pḥng, như các tướng Vĩnh Lộc, Trần Văn Trung, Nguyễn Bảo Trị… đều tâm phục anh.

 

Có ông bạn dược sĩ già, nói là thông gia với gia đ́nh nhà báo Đỗ Quí Toàn, ở tù cùng pḥng, không khoái mấy chuyện xây sanh phần, nhưng nghe anh Côn bảo thời của bọn đỏ chẳng lâu lắt ǵ, th́ như người vừa uống xong thuốc bổ, nhất định bắt cả anh Côn lẫn tôi phải xài tiếng Pháp, phân tích thật kỹ cho ông nghe.

 

Ông bạn dược sĩ già trong buổi truyện tṛ năm nào hiện đang ở khu Irvine, Nam California. Vợ chồng Trần Dạ Từ ở Thụy Điển. Tôi vừa vượt biển vô được đất Mỹ. Đằng Giao, Anh Quân c̣n bên nhà. Anh Doăn Quốc Sỹ đang tiếp tục nằm trong nhà tù. Riêng anh Nguyễn Mạnh Côn không c̣n nữa. Lời xưa anh nói, chỉ hơi sai một chút: Chúng tôi không c̣n dịp cùng nhau xuống Thủ Đức, tự trồng cây, đào huyệt, lo lấy sinh phần cho ḿnh.

 

Đúng hai năm sau ngày anh Trần Dạ Từ ra khỏi nhà tù Cộng sản, cũng đúng một năm sau ngày Văn Bút và chính phủ Thụy Điển đón tiếp gia đ́nh anh ở Stockholm, ngày 9.9.1989, bạn hữu văn giới ở Hoa Kỳ đă họp mặt mừng anh tại một nhà hàng ở Nam Cali.

 

Cùng với các anh Nguyên Sa, Phạm Duy, Mai Thảo, Tạ Tỵ, Viên Linh, Lê Đ́nh Điểu và nhiều anh em khác, tôi đă có dịp nói về chuyện ở tù cộng sản với Trần Dạ Từ và bạn hữu. Tiếc thay, khi chỉ vừa nhắc tới trái chuối, củ khoai hai anh em có lần bẻ cho nhau trong tù, là tôi đă ̣a khóc ngay trên diễn đàn, không sao nói được thành tiếng nữa. Sức lực tuổi già tệ hại quá. Bao nhiêu năm trong ngục tù, anh em nhà văn nhà báo bên nhau đâu có ai nh́n thấy nhau khóc. Tất cả chúng tôi, ngay trong ngục tù, vẫn ráng tươi cười với nhau.

 

Tôi thú thật không hề biết ǵ về văn thơ. Về thơ Trần Dạ Từ cũng vậy. Chỉ biết anh trong nghề làm báo. Tờ nhật báo cuối cùng của anh Từ, trước khi đóng cửa v́ luật báo chí VNCH đ̣i chủ báo thế chân 20 triệu, in trong nhà in của tôi ở đường Vơ Tánh.

 

Vị trí làng báo Saigon dành cho Trần Dạ Từ làm tôi ngạc nhiên, cứ tưởng anh phải là một người lớn tuổi hơn. Khi gặp, tôi mới biết anh sinh  năm 1940.

 

Thời đệ nhất Cộng Ḥa, cả miền Nam chỉ có 9 nhật báo. Năm 1962, anh Trần Dạ Từ đă là Tổng thư kư nhật báo Dân Việt,  một tờ báo gốc Thiên Chúa giáo cánh Bắc. Anh Chu Tử viết truyện dài và mục Ao thả Vịt nổi tiếng, là từ báo này. Sau 1964, bộ biên tập bạn hữu của Từ sẽ c̣n điều khiển các tờ báo có lúc có số bán vượt mức như Sống, Ḥa B́nh, Độc Lập.

 

Sau khi bị cầm tù thời Phật giáo tranh đấu năm 1963, ra tù, Trần Dạ Từ vẫn tiếp tục làm tờ Dân Việt, nay đă đổi tên thành Việt Báo, do anh Phương Linh làm chủ nhiệm.

 

Tôi c̣n nhớ đây là lúc thịnh thời nhất của Phật giáo miền Trung. Tờ “Lập Trường” do nhóm các anh Tôn Thất Hanh, Lê Tuyên, Cao Huy Thuần xuất bản ngoài Huế, làm mưa làm gió, tới mức đ̣i phải thiên đô ra Huế. Bài quan điểm đ̣i Thủ đô chính trị phải là Huế th́ viết rằng gần mực th́ đen. Thủ đô chính trị phải là Huế, gần đèn, mới mong rạng được.

 

Thời ấy, cánh chính khách theo các thầy ngoài Huế  đang lên chân. Chủ báo Lập Trường được mời vô Saigon làm Hội đồng Nhân Sĩ. Chính nghĩa chống độc tài quân phiệt rạng ngời, phần lại lo bị chụp mũ cần lao, chế độ cũ, làng báo Saigon êm re.

 

Chính lúc đó trên tờ Việt Báo xuất hiện loạt bài kư rơ tên Trần DạTừ, minh danh “hỏi thăm” anh em nhóm Lập Trường, từng điểm một rành rọt. Tuần báo văn Nghệ Tiền Phong, phần quan điểm thời cuộc do anh Nguyễn Mạnh Côn, thường viết với  bút hiệu Đằng Vân Hầu, gọi việc anh Từ kư rơ tên cho loạt bài này là sự dại dột đáng kính trọng của người làm báo. C̣n nhớ, lănh tụ sinh viên nổi danh thời 1964 là anh Nguyễn Trọng Nho, tuyên bố tán thành các luận cứ của Trần Dạ Từ. Làng báo Saigon bắt đầu hưởng ứng. Báo Lập Trường im, một thời sau, tự đóng cửa. Cao Huy Thuần lấy học bổng đi sang Pháp học. Sau 1975, báo Cộng Sản ở Hà Nội nói Cao Huy Thuần là nhà nghiên cứu, chuyên về tiểu sử Hồ Chí Minh.

 

Sống với nhau trong tù, nhất là qua anh Côn lúc đầu, biết thêm về anh Trần Dạ Từ, tôi càng ngạc nhiên hơn. Hóa ra anh Từ c̣n lạ hơn tôi tưởng. Thấy anh hồi ngoài hai mươi tuổi đă làm tổng thư kư một tờ nhật báo công giáo, lại là người đưa hồi kư của Linh Mục Cao văn Luận lên báo Độc Lập, tôi đinh ninh anh phải là công giáo th́ anh lại là một Phật tử. Trong bộ biên tập anh Từ điều khiển và bạn hữu anh, nhiều người là đại khoa bảng. Tôi đinh ninh anh phải là người học hành ghê lắm, hóa ra anh chưa học xong tiểu học. Tiếng Tây, tiếng Mỹ bập bẹ, cùng lắm chỉ đủ để đoán ṃ ra nội dung bản tin viễn kư hàng ngày, trước khi trao cho người phiên dịch trong ṭa báo.

 

Th́ ra, người bạn đồng nghiệp trẻ của chúng tôi, vốn xuất thân chỉ là cậu bé bán báo, mười hai tuổi đă sống ngoài lề đường.

 

Tết năm 1955, trước khi người Pháp rời hẳn Việt Nam, đài Pháp Á ở Saigon tổ chức giải thơ, phần thưởng lớn gấp ba đài Saigon. Người tới đ̣i lănh giải nhất là một cậu bé 15 tuổi mặc quần sọoc. Chủ sự chương tŕnh Pháp Á là anh Hoàng Cao Tăng phải họp hội đồng giám khảo lôi cậu bé ra thử tài đủ kiểu, buộc anh Hồ Đ́nh Phương, thư kư hội đồng, phải lập biên bản, kư bảo lănh, mới chịu phát cho cậu bé mấy ngàn bạc tiền trúng giải. Năm 1956, vẫn cậu bé, lại đoạt giải nhất giải truyện ngắn của tuần báo Nhân Loại, do anh Tam Ích coi ban giám khảo. (Người đoạt giải nh́ là anh Lê Vĩnh Ḥa, sau này là nhà văn liệt sĩ của Mặt Trận Giải Phóng). Anh Hồ Đ́nh Phương phụ trách trang “B́nh Thơ” trên báo Văn Nghệ Tiền Phong dành cả 4, 5 kỳ báo b́nh thơ cậu bé khác thường này.

 

Bước vô làng báo chuyên nghiệp, cậu bé làm thơ văn ấy phải làm từ việc thầy c̣, viết lấp chỗ trống đủ các mục, từ tin cán chó, tới bài quan điểm, rồi mới thành Trần Dạ Từ.

 

Hồi c̣n tù ở Sở công an, anh Nguyễn Mạnh Côn có lần nói với tôi: “Có dịp, ông nhớ bắt tên Từ học thêm, phải cho nó thật giỏi tiếng Pháp.” Anh Côn kể từ lâu đă bắt anh Từ học thuộc bản tuyên ngôn của Đảng cộng sản bằng tiếng Tây. Tôi nghe mà ph́ cười. Học kiểu ấy th́ làm sao mà khá cho nổi.

 

Hồi hai anh em cùng nằm một chiếu ở trại khổ sai Gia Trung, đến phiên tôi dạy anh Từ học thêm tiếng Pháp. Lại có thêm một chuyện buồn cười. Không khá ǵ hơn ông thầy Nguyễn Mạnh Côn, anh Từ lại phải tộng cho bằng hết toàn văn Lê Nin bằng tiếng Tây, nhờ h́nh Lê Nin, mà sách gửi được vô trại tù.

 

Tụng kỹ Lê Nin quá, có lần anh Từ nói: “Có dịp, anh em ḿnh phải chú giải lại Lê Nin bằng sự việc ông ạ. Tức cười thật, th́ ra trí tuệ phương tây bị chữ nghĩa bắt nạt, chả hiểu ǵ cả.”

 

Năm 1977, cũng tại Gia Trung, chị Nhă Ca đi cùng vợ tôi lên thăm, sau đó anh Từ cho tôi biết anh Mai Thảo, sau cả năm bị lùng bắt, đang ở  trong nhà anh trên đường Tự Do. Tôi với anh Doăn Quốc Sỹ nh́n nhau, không biết nói sao.

 

Đầu năm 1978, thân nhân anh Mai Văn Lễ (Khoa trưởng luật khoa Huế, nguyên phó chủ tịch Hội đồng kinh tế quốc gia, rất thân quí anh Từ) lên thăm cho hay chị Nhă và lũ nhỏ bị đuổi khỏi nhà, trục xuất khỏi thành phố.

 

Suốt cả năm không có tin nhà, chả biết vợ con sống chết ra sao, anh Từ không hề hé răng nói một câu lo lắng, vẫn b́nh tĩnh tụng Lê Nin toàn tập.

 

Anh Doăn Quốc Sỹ sau này, trong tù, sẽ thay tôi đọc cả chục bài thơ của Trần Dạ Từ, bằng tiếng Tây.

 

Nói rằng trong tù  không hề khóc, với tôi, cũng sai. Tôi đă có hai lần khóc.

 

Một lần, khi làm việc trực nhật, xuống bếp trại bưng nồi cơm, thấy mấy hạt cơm rơi phía ngoài nồi, trước mặt đông đủ anh em, tiếc của trời, cho là thường, tôi bốc bỏ vô miệng.

 

Hôm sau, có người báo là bọn cán bộ bảo đội trưởng phải họp đội, mang anh ra đấu tố v́ tội lượm cơm của đội ăn riêng. Anh Từ bảo riêng tôi: “Nó muốn kiếm chuyện, chọc ḿnh căi lại cho có cớ bêu xấu rồi nhốt. Chuyện không đáng. Đừng dại húc đầu. Anh đừng thèm căi tiếng nào. Nhận ngay lỗi, tự ḿnh xin chịu biện pháp kỷ luật nặng nhất. Vậy là hết chuyện để nói qua nói lại.”

 

Phiên họp đội  đấu tố được tổ chức. Tôi nói, bao năm rồi tôi vẫn nhớ nguyên từng chữ, như sau: “Tôi xin nhận hết tội lỗi đă bốc cơm của đội và của nhân dân bỏ vô miệng. Năm nay tôi gần 60 tuổi, một người chừng ấy tuổi mà không ra ǵ, bốc cả đến mấy hạt cơm rơi bỏ vô lỗ miệng, ngay trước mặt bao anh em khác, thật làm tất cả phải xấu hổ. Tôi xin nhận hết tội lỗi to lớn này. Xin các anh em hăy hăng hái phê b́nh. Xin cán bộ hăy cho tôi hưởng h́nh phạt nào nặng nhất, như cúp phần ăn hoặc đi kỷ luật, để giúp tôi tự sửa ḿnh. Xin hết.”

 

Mọi người nh́n nhau, không thấy ai đấu tố. Sau đó cũng không thấy h́nh phạt. Chúng tôi cũng chỉ lặng lẽ cười với nhau. Ít lâu sau, khi nghe tin anh Nguyễn Mạnh Côn chết, lại nghe kể trước khi chết miệng anh c̣n kêu cơm cơm. Tự nhiên, tôi bỗng thấy ḿnh khóc.

 

Tôi c̣n khóc một lần nữa, khi chuyển trại.

 

Được rời khỏi đội khổ sai nặng nề nhất trại, bị gọi là đội trừng giới, với nhiều người, là cái may. Với tôi, th́ vậy là phải xa anh Từ và bạn hữu. Trong tù, anh Từ là người lặng lẽ, không bao giờ chịu hái một cây rau cọng cỏ hoặc kiếm thêm củ khoai củ sắn,  chính tôi vẫn thường lo cho anh.

 

Gặp nhau lần cuối bên bờ suối, kiếm được trái chuối củ khoai, tôi dúi vội cho anh.

Khi quay đi, một lần nữa, tôi thấy ḿnh lại khóc.

 

Xin các bạn họp mặt hôm 9.9.1989 chào mừng Trần DạTừ tha lỗi cho tôi, đă v́ khóc mà bỏ ngang phần phát biểu.

 

 

Hoa Thịnh Đốn, tháng 3.1990

Hồ Văn Đồng

 

Nguồn: damau, báo xuân Việt Báo 2014

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính