Sài G̣n, đêm cuối cùng, ở lại

 

Hồ Hoàng Hạ

 

 

Dường như có tiếng quẫy đuôi của vài ba chú cá nào đó liên tục chạm vào mạn tàu, ngay phía dưới ca-bin tối lù mù, chỗ tôi vừa ngả lưng cho qua cơn mệt mỏi và buồn ngủ tích lũy từ suốt mấy ngày qua. Trong đêm thanh vắng, mịt mùng âm u, tiếng nước bị xé b́ bơm bởi loài thủy ngư nghe cứ rơ mồn một bên tai, từng chập từng chập, một cách hối hả bức bách như có ư kêu gọi, cầu cứu. Hay là mấy con cá tội nghiệp nào đó cũng muốn xin được lên… tàu để di tản?!…

 

Dù người ngợm rệu ră, đầu óc nặng tŕnh trịch những âu lo diệu vợi, tôi vẫn suưt cười thầm ra nước mắt về cái ư nghĩ bi quan tếu vừa thoáng qua đầu. Mấy con cá khốn khổ chết bằm này, vốn có thừa khả năng, sao không theo ḍng sông bơi thẳng ra cửa biển để tránh cái cảnh tranh tối tranh sáng, lưới chài bủa chụp khắp nơi sắp diễn ra, lại quấy rầy chi giấc ngủ chập chờn của dân di tản v́ biết chắc rằng không thể nào sống được trong nước ao tù, trong sóng cuồng thác lũ theo cách… chịu trôi theo ḍng nước như chúng bây! Hay là lũ cá dưới nước linh cảm sắp có một cuộc bể dâu đổi dời, đất trời đảo ngược, không c̣n chốn sông nước để chúng dung thân sao đó, nên mới hốt hoảng rối rít t́m cách tháo thân cho kịp trong đêm nay, cũng nên. Nếu thế, có khác chi t́nh huống của hằng trăm ngàn con dân trong thành phố này, cuống quưt bồng bế, kéo nhau lên phi trường, chạy ra bến tàu, thậm chí xô đạp lên nhau ở trước cổng ṭa Đại Sứ Mỹ, nơi có những chiếc trực thăng đáp trên nóc ṭa nhà để bốc người di tản mà chính mắt tôi chứng kiến lúc ban chiều…

 

Măi miên man với những ư tưởng nặng nề chen chúc trong óc, tôi không tài nào chợp mắt được dù chỉ vài phút. Nhắm mắt là chỉ để nhắm mà thôi! Và trong cơn thiêm thiếp ngủ chẳng ra ngủ, thức không ra thức này, cơ thể tôi như bềnh bồng nhấp nhô trôi trên những ḍng hoài niệm, lúc th́ từ gần đến xa, khi lại từ xa đến gần, liên tiếp không dứt.

 

Thời cuộc, t́nh thế đưa đẩy đến lạ lùng, buộc tôi phải có một quyết định cấp thời để được việc, ngoài sự mong muốn tự thâm tâm. Tôi vốn không thích chốn sông nước ngay từ thuở nhỏ, không hiểu tại sao, nếu chưa muốn nói là kỵ. Do đó mà cả đời không hề có dịp lên ghe thuyền hay đáp tàu sang sông, ra biển.

 

Thực ra, thời thơ ấu, cũng có đôi ba lần tôi được theo ông anh thứ ba, từ Sài G̣n xuống Vĩnh Long để thăm anh hai tôi, lúc đó là lính thủy, tàu neo thường xuyên ở đó. Tất nhiên phải đáp phà ở bắc Mỹ Thuận hai lượt, đi và về. Nh́n ḍng nước đục ngầu cuồn cuộn chảy như muốn chực nuốt gọn con phà, bàn tay tôi cứ víu chặt cánh tay ông anh cho đến khi tới bờ, chẳng một giây dám rời. Thú thật, tôi chẳng thích sông thích suối chút nào kể từ thuở ấy, dù chưa hẳn đă ư thức được thế nào là sự hiểm nghèo của lội suối, qua sông. Sau này, khi lớn lên, đọc và nghe được nhiều, tôi nghiệm ra rằng, con người ta vốn sợ lửa hơn sợ nước; chính v́ vậy con số nạn nhân bỏ mạng v́ nước dường như thập phần hơn hẳn số người chầu trời v́… bà hỏa! Bởi thế, tôi càng kiêng dè… nước nhiều hơn.

 

Vậy mà, chỉ chưa đầy một tháng trước đây thôi, cùng với đám đệ tử trong trung đội tâm lư chiến và vài cô chính huấn từ đơn vị ở Qui Nhơn, theo đường bộ một lèo về tới B́nh Tuy, rồi ở đó tôi phải đành chịu lên tàu tại băi Tầm Dương để về Vũng Tàu. Chẳng c̣n cách nào khác. Ngă ba B́nh Tuy đi vào Long Khánh, theo quốc lộ một, bị rào chặn ngang bởi một dăy thùng phuy đầy cát. Tất cả xe cộ di tản từ miền Trung vào, bắt buộc phải quẹo trái để vào B́nh Tuy. Mọi người đều hiểu rằng, nếu tiếp tục theo Quốc lộ 1 về Sài G̣n có nghĩa là tự sát, là t́nh nguyện làm bia hứng đạn Việt cộng ở khúc Rừng Lá. Chẳng sao tránh khỏi!

 

Chiếc tàu mà tôi trèo lên ở ngoài khơi biển B́nh Tuy, sau khi cũng trèo lên một thứ phương tiện thủy vận nhỏ hơn, loại dành cho Thủy Quân Lục Chiến đổ bộ hay ǵ ǵ đó tôi không rành, nó to khủng khiếp. Tôi nhớ đó là chiếc 500 hay 504 ǵ đó. Là dương vận hạm, ngó thật vững chăi và an toàn như một pháo đài hay chiến lũy trên biển chứ chẳng phải thứ tàu chạy trên sông, cùng lắm là bám theo ven biển, mà anh hai tôi là thuyền trưởng, nơi tôi đang ngả lưng đêm nay. Có một điều, chẳng hiểu tại sao không hề nghe ai trong giới hải quân gọi cấp chỉ huy cao nhất trên một chiếc tàu vừa vừa là… tàu trưởng? Tàu to như mấy chiếc năm trăm dương vận hay mấy chiếc Trần Khánh Dư, Trần B́nh Trọng… chuyên tuần dương chẳng hạn, thủy thủ gọi sếp lớn đại bàng là hạm trưởng. Nhưng tàu nhỏ, cũng là tàu, chuyên chạy trên sông, cùng lắm là theo ŕa biển, th́ chỉ huy lại chỉ được gọi là… thuyền trưởng mà thôi. Như anh hai tôi chẳng hạn. Trong ư nghĩ, tôi cho rằng thuyền th́ phải nhỏ, đại loại như… ghe là cùng. Nhưng anh hai tôi là thuyền trưởng của một chiếc tàu thuộc loại… há mồm được. Trông cũng bề thế lắm!…

 

Sụp tối đêm nay, khi cùng với mấy anh em trong gia đ́nh đặt chân lên sàn tàu ông anh, tôi cảm thấy an tâm vô cùng. Chắc chắn nó không thể nào… ch́m nổi! Nó dư sức chạy một mạch ra khơi, quẹo sang ngả Thái Lan hay trực chỉ phía Phi Luật Tân để có thể được rước bởi rất nhiều tàu thuộc Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ đang án ngữ ngoài khơi. Anh hai tôi cam đoan như vậy. Nhưng trước tiên, vẫn là để tránh cái cảnh tranh tối tranh sáng nếu quân Cộng Sản tràn vào được Sài G̣n. Có ǵ chắc chắn tránh khỏi một vụ trả thù, tàn sát quân dân thành phố theo kiểu cách Tết Mậu Thân ở Huế năm nào mà Việt cộng đă thực hiện. Anh em tôi không ai quá bi quan nghĩ tới điều này. Nhưng mấy ngày cuối cùng của Tháng Tư, khi xem và nghe t́nh h́nh thời sự trên truyền h́nh, thấy căng thẳng và có thể nguy ngập cho Sài G̣n, song thân tôi giục tất cả đến nhà anh hai tôi trong cư xá Cửu Long để ẩn trú; lỡ có bề ǵ th́ xuống tàu được nhanh, lấy lư do anh em tôi đều là lính tráng.

 

Hơn nữa, xóm nhà tôi ở là khu b́nh dân lao động, nằm vùng Việt Cộng chắc chắn có. Bởi lẽ, thỉnh thoảng vẫn có truyền đơn sách động của chúng lén rải đầy trong đêm. Nghe song thân bàn, anh em tôi cũng chột dạ. Từ chiều 28 đă rủ nhau kéo hết đến nhà ông anh hai, người nào trang phục binh chủng của người đó. Trừ một trong những thằng em tôi là dân Nhảy Dù, c̣n ở lại với đơn vị của nó ở miệt Trảng Bàng Củ Chi hay Đức Ḥa Đức Huệ ǵ đó. Dân Nhảy Dù th́ luôn dũng cảm bám trận địa, chiến đấu phải biết!…

 

Vào ở trong trại Cửu Long cũng thuận tiện cho tất cả anh em tôi. Trừ anh hai, anh ba tôi là dân tài xế lái xe cho mấy sếp lớn tùng sự ở Nha Quân Pháp tại Bến Bạch Đằng. Một ông anh họ là thiếu tá quân chủng Hải Quân nhưng chỉ làm việc trên bờ. C̣n ông anh rể cũng là sĩ quan Hải Quân Trung Úy, làm việc trên tạm trú hạm xéo xéo Bộ Tư Lệnh Hải Quân. Thêm một thằng em khác của tôi, cũng dân Hải Quân, trung sĩ nhất với nghề hoa tiêu lái tàu. Riêng tôi, là dân Chiến Tranh Chính Trị, đơn vị di tản từ ngoài Trung về, được tái bố trí và tạm đóng trong ṿng thành Cục Tâm Lư Chiến, bên hông Sở Thú. Như vậy, tất cả, nếu cần tới đơn vị ḿnh hằng ngày, sẽ được gần hơn so với chỗ ở của gia đ́nh, tận bên khu Hàng Keo Gia Định.

 

Từ lúc đơn vị tôi, Tiểu Đoàn 20 CTCT. về tạm đóng nơi doanh trại cũ của Tiểu Đoàn 50 CTCT, trước đó vừa giải thể, hằng ngày tôi vẫn phải đến hiện diện nghe ngóng, chờ lệnh. Cho đến xế chiều 29 Tháng Tư, khi hằng đoàn trực thăng bốc người di tản vần vũ trên không phận Sài G̣n với câu mật lệnh phát qua luồng sóng nào không rơ, nhưng nghe được từ chiếc radio nhỏ tôi luôn mang theo người kể từ lúc chạy từ ngoài Trung về hồi đầu tháng. Mật lệnh mà lúc ấy, khi nghe được tôi cũng chỉ tưởng là luồng sóng phát thanh bị trục trặc hay bị phá ǵ đó. Đại khái câu mật lệnh đó đề cập đến một mùa Giáng Sinh trắng êm đềm đă đến (?)… Ai đang nghe được phải mau hưởng lấy… (!). Nội dung câu trên được lặp đi lặp lại liên tục, nghe đến bực ḿnh v́ không hiểu ǵ hết! Tôi lôi chiếc máy ra khỏi túi áo treilli đổi ngay băng tần đang phát. Nhưng chỉ nghe toàn âm thanh lè rè, không bắt được một luồng sóng đài nào khác…

 

Lúc đó tôi bực ḿnh cũng phải. Nguyên là, lúc xế chiều, tôi mượn chiếc xe đạp, loại xe đua, của con ông anh hai để đi tới đơn vị. Lúc quẹo phải, từ sân sau Cục TLC để sang phía đơn vị, nơi có chiếc cổng sắt khép hờ th́ bất ngờ có một chiếc Honda của một quân nhân nào đó từ bên kia cổng vọt nhanh sang. Tôi bẻ lái tránh kịp nhưng do thắng không ăn, chiếc xe đạp đâm thẳng vào trụ xi măng của chiếc cổng! Hậu quả: xe gẫy đôi nơi phần cổ dưới tay cầm. Tôi ngă chỏng gọng, nhưng may mắn không trầy sướt ǵ. Doanh trại lúc đó vắng teo, tôi không nh́n thấy ai ở ngoài ngoại trừ tay lái Honda. Hắn ngoái cổ nh́n tôi bằng một nụ cười cầu tài, không thiện cảm nỗi, rồi vọt xe chạy thẳng…

 

Sau giây phút hú vía v́ tai nạn bất ngờ, nh́n quanh không thấy một bóng áo phe ta, tôi đâm rét, lật đật lôi hai phần gẫy ĺa của chiếc xe, lếch thếch kéo về. Mệt ứ hơi mà dọc đường chẳng thấy có một tay sửa xe đạp lề đường nào như mọi ngày trước. Trực thăng th́ cứ lạch tà lạch tạch trên đầu. Chẳng biết sắp diễn biến thêm chuyện ǵ ngoài chuyện biết chắc rằng Cộng quân đă áp sát Sài G̣n, tạo áp lực nặng ở nhiều nơi cửa ngỏ thành phố. Chẳng thế mà chiều qua và sáng nay, đă có một vài quả pháo của Cộng quân rót vào một vài khu cư dân đông đúc bên Bà Chiểu, ở Khánh Hội, trên Tân B́nh, phía G̣ Vấp, miệt Phú Lâm… Ngay như khu vực Thị Nghè, sát trại Cửu Long, cũng lănh hai ba trái cối 82 ly. Như vậy, rơ ràng t́nh h́nh đă dầu sôi lửa bỏng đến nơi!…

 

Khi tôi về đến nhà, không ai quan tâm hỏi han ǵ đến chiếc xe đạp tại sao cớ sự, lại đề nghị nên về gặp ông bà già lần chót, nhân tiện tiếp tế lương thực.

 

Chả là, đêm qua tối 28, lao xao nhốn nháo cả khu trại Cửu Long lẫn cư dân bên ngoài, kéo nhau đi lấy thực phẩm. Cả một dăy nhà kho chứa lương thực, nằm dọc nhánh sông Sài G̣n, bên trong chân cầu khoảng vài trăm mét, không hiểu ai đă mở banh cửa sẵn. Vậy là bà con, dân có lính có, già trẻ lớn bé, hằng đoàn lũ lượt, ùn ùn kéo đến khu nhà kho lấy “đồ ăn” tự do.

 

Những nhà kho chứa lương thực và hằm bà lằng thứ này, do Mỹ dựng lên theo kiểu nhà tiền chế lắp ghép, mỗi cái nó rộng dễ ǵ cũng cỡ bằng gần nửa cái sân đá banh. C̣n lương thảo chứa bên trong thôi th́, không biết cơ man nào mà kể. Trong bao, trong bịch, trong hộp, trong chai, trong thùng gỗ, thùng nhựa, thùng cạc-tông… đầy ăm ắp, san sát nhau, chồng lên nhau.. Có chỗ chất cao lên gần đỉnh nóc. Nhưng tất cả đều là thực phẩm Mỹ. Có lẽ chẳng thiếu món ǵ!?… Người “hôi” đông như kiến cỏ. Mà núi kho th́ tràn trề. Từ chập tối đến sáng mà các kho chẳng vơi đi bao nhiêu. Nhóm anh em tôi, tất nhiên không tránh khỏi không có mặt. Thấy người ta đi “đông vui” th́ ḿnh cũng hào hứng đi. Vả lại, nhờ thế thần kinh đỡ căng thẳng hơn là nằm trong nhà trằn trọc chờ đợi t́nh h́nh diễn biến bên ngoài. Chứ có ngủ nghê ǵ được khi đại bác chốc chốc lại vọng về, càng lúc càng gần. Một ông anh và thằng em cùng đứa cháu đi “lấy” mệt nhoài mới thôi. C̣n tôi, do ốm yếu, chỉ đứng ngoài giữ hàng lấy được. Tuy nhiên, chỉ sau hai tiếng đồng hồ, căn nhà anh hai tôi đă trở thành một… nhà kho nhỏ. Mà dường như mấy nhà xung quanh tôi nh́n thấy được, cũng vậy!

 

Sau khi mang một mớ lương thực… Mỹ cho về nhà ông bà già, anh ba tôi, với chiếc vespa cà tàng, chở tôi đi một ṿng thành phố xem t́nh h́nh. Trời sắp nhá nhem, thành phố đă lên đèn, nhưng toàn cảnh chung, có một vẻ ǵ u ám thê lương và nháo nhác hối hả đến hăi hùng. Một chiếc trực hăng đang chao lượn trên nóc ṭa Đại Sứ Mỹ nơi góc đường Thống Nhất và Mạc Đỉnh Chi. Bên dưới, nơi mặt tiền ṭa nhà này, đông nghịt người xô đẩy, leo trèo, la hét. Chiếc cổng th́ lúc khép lúc hé mở để Quân Cảnh và TQLC Mỹ nai nịt, trang bị súng ống tận răng, soát giấy tờ, nhận diện cho người vào. Tôi c̣n nghe được cả tiếng khóc và chửi bới của những người dân thường bị xô lấn, thẳng tay gạt ra hay bị chèn đạp.

 

Bức tranh thật khốn khổ, cùng cực. Chỉ v́ không ai muốn ḿnh phải sa cơ, ở lại với Cộng Sản, ngộ lỡ khi Sài G̣n thất thủ. Ra đến bến Bạch Đằng, khung cảnh cũng chỉ là “toàn dân thành phố bỏ chạy.” Tôi thấy có mấy chiếc tàu c̣n neo ngoài xa, chưa di chuyển. Có cả chiếc tàu lớn hôm chở tôi từ B́nh Tuy về Vũng Tàu. Tôi ngó thấy hầu hết trên các tàu đă đông nghẹt người. Nhà binh cùng thường dân lẫn lộn. Không hiểu bằng cách nào họ đă lên được v́ lúc đó tôi không thấy có ghe thuyền nào vào rước người đưa ra. Mà trên bờ th́ c̣n cả hằng ngàn người chen lấn, thét gào một cách vô vọng.

 

Anh ba tôi buột miệng: “Ḿnh quay về giục anh hai đi thôi. Không c̣n kịp nữa đâu!”

 

Lúc về đến nơi, cả nhà cũng đă sẵn sàng. Anh hai tôi c̣n rầy rà sao chúng tôi đi đâu lâu quá làm cả nhà phải chờ. Trời tối hẳn lúc anh em tôi xuống tàu ông anh, neo tận cùng trong doanh trại Cửu Long, nơi có thể nh́n rơ mồn một toàn cảnh bến Bạch Đằng. Có cả bà chị dâu kế của tôi và một đứa con trai. C̣n một đứa lớn nữa đang học tại trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu, chưa về kịp. Chắc kẹt!

Lúc xuống tàu tôi thấy trên tàu đă có lố nhố thủy thủ, lính của ông anh. Có cả gia đ́nh một ông thiếu tá Hải Quân gồm vợ và ba bốn đứa con đến xin anh tôi, chỉ mới là thiếu úy già, cho xuống tàu. Anh tôi đồng ư nhưng yêu cầu ông ta tự cởi lon cất. Ông ta răm rắp làm theo. Có lẽ vị thiếu tá này hiểu, phải làm vậy để anh tôi dễ chỉ huy.

 

Sau khi cho tập họp thủy thủ ban lệnh lạc ǵ đó xong, ông anh kéo mấy anh em tôi đi chỉ chỗ nằm ngủ, ngay phía dưới, gần chỗ buồng lái, dặn ḍ một vài điều. Anh c̣n kín đáo đưa tôi một khẩu P.38, loại súng cá nhân của các pilot thường sử dụng, không rơ anh xoay từ trước ở đâu, và dặn: “Em cất tự vệ. T́nh thế hỗn quân hỗn quan, em là sĩ quan, phải đề pḥng!” Tôi nhận và giấu gọn khẩu súng trong túi áo field jacket sau khi nh́n chốt an toàn ở vị thế khóa, mặc dù bản tính chúa ghét súng ống tuy đă hơn sáu năm lính. Chỉ có tôi và thằng em ngả lưng nằm, c̣n mấy ông anh kéo nhau lên trên pḥng lái. Tôi nh́n chiếc đồng hồ dạ quang trên tay, chỉ mới hơn 8 giờ tối.

 

Mới một lần trở người, ngó sang chiếc giường đối diện, loại giường sắt với một cạnh được tháp vào vách, c̣n cạnh kia có hai chân chống xuống, khi cần có thể giở lên, lật xếp vào vách để lối đi được rộng hơn, thấy thằng em đă ngái kḥ kḥ. Dân Hải Quân, quen đi tàu nên dễ ngủ. Mặc dù không khí trên tàu có một mùi là lạ khác trên đất liền, hít vào không phải dễ chịu. Chắc là mùi sắt, mùi dầu, mùi ẩm mốc lâu ngày của máy móc vật dụng không thường xuyên được làm vệ sinh, trộn lẫn vào nhau cũng nên.

 

Tôi nằm yên, cố dỗ giấc ngủ cho quên mọi việc, khá lâu mà chẳng được. Trên đầu giường, nơi hốc kẹt vách, thỉnh thoảng âm thanh tắc lưỡi khô khốc của một con thạch sùng vang lên nghe thật thảng thốt. Dường như con vật cũng đang muốn than văn giùm về cảnh ngộ hiện tại của những con người đang hiện diện quanh nó, mà gần nhất là tôi. Chuyện ǵ sẽ xảy đến cho thành phố trong đêm nay, cho mọi cư dân khắp nơi, trong đó có khu xóm nghèo với mái nhà song thân tôi, nếu như giặc thật sự tràn vào.

 

Nam Vang đă lọt vào tay Khờ Me đỏ hung hăn khát máu từ giữa Tháng Tư. Điều này tôi biết nhờ các chương tŕnh tin tức phát từ các đài nước ngoài. Đài trong nước chỉ nói thoáng qua, không mổ xẻ phân tích ǵ nhiều. Và ám ảnh về một cố đô Huế hồi năm Mậu Thân với những thảm cảnh tàn sát đồng bào một cách man rợ do bàn tay CS gây ra chỉ trong vài tuần chiếm đóng, đă làm tôi liên tục rùng ḿnh, lạnh sóng lưng. Chắc chắn không phải v́ không gian lạnh lẽo lúc đó. Trái lại, tôi chỉ cảm nhận được từ không khí quanh ḿnh một nồng độ nóng sốt, bức bách đến khó thở chứ không thấy chút ǵ lạnh lùng từ hiện trạng. Cảm giác này tự nhiên thôi. V́ cả thành phố với tất cả mọi nhịp tim và hơi thở đều đang bị đặt trước đầu ngọn băo táp lửa đạn chiến tranh đang áp sát, chực chờ giáng xuống.

 

Tôi chợt nghĩ đến khẩu súng trong ḿnh. Có thể nào đă sắp đến lúc tôi phải sử dụng đến nó và chừa lại viên cuối cùng cho ḿnh nếu như giặc chặn đường tàu thoát bằng hỏa lực áp đảo. Tôi không quên, chính trên chiếc tàu này trong nhiều năm trước nơi đài chỉ huy, viên thuyền phó cũ đă ngă gục tại chỗ, c̣n anh tôi bị thương nặng v́ một quả B40 trong một vụ phục kích bất ngờ của Cộng quân tại một khúc hẹp nào đó trên sông Ḷng Tàu. V́ t́nh cảm cưu mang, bà vợ đèo ḅng thêm của anh hai tôi, cùng hai đứa con riêng nữa, chính là người vợ của tay thuyền phó đă bỏ mạng trong vụ bị phục kích đó. C̣n căn nhà trong trại Cửu Long, cũng chính là tổ ấm cũ của gia đ́nh bà vợ hai này.

 

Trăn trở măi vẫn không tài nào ngủ được, xem đồng hồ đă quá nửa đêm. Tôi ḷ ḍ chồm dậy ṃ lên pḥng lái. Mấy ông anh cùng tay thuyền phó mới, kẻ đứng người ngồi, chùm nhum trong đó với những điếu thuốc đang cháy đỏ dở dang trong tay. Không nghe ai chuyện tṛ ǵ. Riêng anh tôi đang liên lạc về Bộ Tư Lệnh qua chiếc máy điện đàm lắp ghép bên cạnh tay lái cùng một vài đồng hồ máy móc vận hành khác. Những âm thanh rè rè liên tục phát ra mà tất cả đều nghe được. Anh tôi không liên lạc được ai. Măi lâu lắm mới có tiếng người ̣ è vọng ra, nghe tiếng được tiếng mất. Nội dung bảo rằng anh ta không có thẩm quyền ban lệnh. Nếu v́ cần thiết, anh tôi cứ giữ liên lạc. Bằng không, là tùy quyền… Anh tôi c̣n cố hỏi thêm danh tính cùng trách nhiệm của người đang điện đàm với ḿnh, nhưng máy đột nhiên cúp ngay lúc đó!…

 

Anh ba tôi nóng ruột, là người duy nhất lên tiếng: “Ḿnh đi đi, anh!” Tôi nhớ anh hai tôi buông ngay một câu cộc lốc trước khi rời buồng lái đi xuống, hướng về pḥng nơi có bà vợ đang nằm, bỏ lại tất cả ngẩn ngơ, trong số có cả tay thuyền phó: “Mày để anh hai chỉ huy!”

 

Trong giây phút mọi người bất động, tôi đảo mắt một ṿng trên sông. Xa xa, tôi nhận thấy rơ ràng một vài tàu đă di chuyển, dù chậm răi. Riêng con tàu lớn nhất có con số đầu là 5, cũng thấy đă nhúc nhích với đông nghịt người bên trên. Trong khoảnh khắc này tôi cảm thấy hết sức sốt ruột lẫn nôn nao trong ḷng mà không biết làm sao. Con tàu mà tôi đang đứng cùng với mấy khuôn mặt hụt hẫng lo lắng bên cạnh, dù tạm có chút an toàn bảo đảm hơn trên đất liền, trăm lần hơn trong trại Cửu Long, ngàn lần hơn nơi xóm lao động b́nh dân của gia đ́nh tôi. Nhưng máy móc nó vẫn c̣n im ắng, tàu chưa rẽ nước tiến lên được lấy một thước nào, thử hỏi làm sao cả thảy an tâm? Mà không ai trong chúng tôi có thẩm quyền hành khiển ǵ con tàu lúc đó trừ ông thuyền trưởng, là anh hai tôi, đă bỏ đi!… Tôi là người đầu tiên tiếp nối theo bước chân anh hai, trở về chỗ nằm cũ với tâm trạng: thôi th́ cầm bằng cho con nước (hay vận nước?) mang đi…

 

Tờ mờ sáng, ông anh ba vào chỗ nằm lôi thằng em và tôi dậy. Trong cơn mệt mề tôi vẫn nghe rơ tiếng anh lầu bầu: “Lên bờ mấy đứa. Không đi nữa!” Tôi chưng hửng: “Sao vậy?” Tiếng anh ba tôi bực dọc, tức giận: “Ảnh cũng lên luôn. Không đi đâu hết!”…

 

…Cái giá mà anh em tôi phải trả về chuyện đă lên tàu, mà là tàu nhà binh với ông anh lúc đó như là chủ nhân, có toàn quyên cho nhổ neo hay không, lại bỏ tàu leo xuống, khá là đắt và nghiệt ngă! Ngoài tôi, với tṛn 7 năm tù “cải tạo”, trong đó có hơn nửa thời gian bị lưu đày ra các miền rừng núi thượng du Bắc Việt; c̣n anh hai tôi, chỉ ba năm thôi. Dù đủ điều kiện đi diện HO., nhưng do thần trí không c̣n b́nh thường lúc mới được phóng thích, toàn bộ giấy tờ tùy thân trong đó quan trọng nhất là giấy ra trại, đă quẳng mất ở xó xỉnh nào không t́m ra được, nên không thể làm hồ sơ. Nhưng đau đớn hơn là cái chết của hai người thân thiết trong gia đ́nh: Ông thiếu tá Hải Quân anh họ, sau năm năm tù cải tạo về, bị liệt một cánh tay và hóa điên hóa khùng; cuối cùng đi lang thang rồi chết bụi chết bờ, xác bó trong chiếu. Cũng c̣n may, công an xác minh được danh tính, địa chỉ nên cho gọi người nhà đến nhận xác về chôn. Đến thằng em trai Hải Quân lái tàu: do bực tức anh hai, nôn nóng vượt biên thiếu tính toán, nhưng cũng do xui xẻo, trong cơn say đă ngă xuống nước chết ch́m tại bến Hàm Tử chỉ vài giờ trước khi ghe xuất phát vào năm 77.

 

Và cùng cực đau đớn hơn! Thân phụ tôi, do lớp xót thương con chết, lớp buồn đau các con đi “cải tạo” không về, lại c̣n bị tấn ép đi kinh tế mới, nhà cửa phải bán hết, gia đ́nh ly tán; lại thêm tuổi già chồng chất… Ông đă bỏ về quê cũ thời thơ ấu của ḿnh là Long Điền Bà Rịa, sau đó tiếp tục lang thang rồi thất tung! Không biết ông nằm xuống ở chốn nào. Hằng năm, anh em tôi chọn ngày cuối cùng của Tháng Bảy âm lịch để làm giỗ cha già.

 

C̣n về hai người anh lớn của tôi, sau này, họ hay cùng ngồi với nhau uống rượu. Mỗi lần rượu vào một ít là anh ba chửi rủa anh hai tôi tơi tả. Cho rằng ảnh là thủ phạm chính của mọi cớ sự xảy tới cho gia đ́nh. Mỗi lần như vậy, anh hai tôi chỉ biết ực từng ngụm rượu và im thin thít, chẳng tự biện hộ điều ǵ. Có lẽ ảnh chịu nhận phần lỗi về quyết định thiếu sáng suốt của ḿnh trong đêm cuối cùng u tối, trước ngày Sài G̣n mất: bỏ tàu, ở lại với thành phố!

 

Nhưng. Không phải anh hai tôi không có lư do của riêng ḿnh. Ảnh và bà vợ, có ư nấn ná ở lại cốt để chờ thằng con trai, v́ quá thương nó, một thiếu sinh quân học ở Vũng Tàu, đang cùng những đồng đội thiếu niên của nó, dũng cảm chiến đấu bảo vệ ngôi trường đó, nên chưa về kịp với gia đ́nh…

 

…Và mệnh lệnh của ngài “tổng thống kiêm tổng tư lệnh quân đội” sáng 30 Tháng Tư đă biến quyết định của anh tôi trở thành sai lầm, dại dột… C̣n hơn thế nữa, ngu xuẩn!

 

Nên riêng tôi, măi đến bây giờ, từ thâm tâm, tôi vẫn không hề có khi nào oán trách anh hai ḿnh…

 

 

Hồ Hoàng Hạ

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính