LTS. Chúng tôi nhận được thư góp ư của thi sĩ Hồ Công Tâm sau đây xin được phổ biến và dành quyền phản biện cho thi sĩ Chu Vương Miện để rộng đường dư luận.

Trân trọng,

Hồn Việt

 

 

 

GÓP Ư VỚI CHU VƯƠNG MIỆN

 

 

Chu Vương Miện làm thơ từ trước năm 1975 ở Miền Nam Việt Nam.  Tôi gặp anh khoảng năm 1985, khi anh được gia đ́nh bên vợ bảo lănh qua định cư tại Nam California. Anh có gửi tôi một xấp thơ đánh máy viết về bằng hữu, có nhiều bài rất hay. Từ khi tôi rời về miền Đông Hoa Kỳ cư ngụ, cách đây đă trên 20 năm, không có dịp hân hạnh gặp lại anh. Tuy nhiên thỉnh thoảng vẫn thấy thơ anh  đăng trên các báo.  Lúc đầu, tôi c̣n đọc. Sau thấy anh đùa rỡn với thơ, ư tưởng bông lông, nội dung quá tiêu cực, tôi không đọc nữa. Phải nói, Chu Vương Miện quen biết rộng trong giới cầm bút, có lúc anh ngỏ ư muốn soạn cuốn Tự Điển Các Tác Giả Việt Nam (Hải Ngoại). Nhiều người cầm bút ở hải ngoại tưởng Chu Vương Miện có ư định thực hiện một công tŕnh biên khảo nghiêm túc, bèn tới tấp gởi tác phẩm, tài liệu tới cho anh. Nhưng rốt cuộc sau trên hai chục năm trời dường như cuốn Từ Điển Các Tác Gia của Chu Vương Miện vẫn chỉ là nước bọt. Nhiều nhà văn khi nghe nhắc tới Chu Vương Miện th́ lắc đầu chép miệng: "Trăm voi không được bát nước xáo! Lập trường th́ tiêu cực! Thực học đă không có, lại làm dáng đùa cợt với chữ nghĩa th́ kiếp nào mới thực hiện nổi một công tŕnh biên soạn to tát, có ư nghĩa được! Chỉ là một tṛ bịp bợm làm cho văn giới nản ḷng mà thôi!".

 

Mới đây, thấy một bài viết của Chu Vương Miện với tựa đề dao to búa lớn: "Thi Ca Thi Nhân: Cao Mỵ Nhân!" Tôi ṭ ṃ đọc thử, xem anh nhận định thế nào về một nhà thơ nữ đă từng có quá tŕnh sáng tác trên nửa thế kỷ với hơn 10 tác phẩm thơvà văn. Tôi thật thất vọng về Chu Vương Miện. Ngoài một số trích đoạn thơ,  kể những chuyện lăng nhăng chẳng dính líu đến việc nhận định tác giả tác phẩm, Chu Vương Miện tương vào bài viết một đoạn nghị luận trên trời dưới đất dường như với dụng ư phá phách, bôi bác khiến người đọc trong và ngoài nước hiểu lầm giới cầm bút hải ngoai nói chung không ư hướng tích cực. Quá thờ ơ, xa lạ với những thao thức của người tị nạn trước vận mệnh đất nước cũng như khát vọng tự do dân chủ của đồng bào ruột thịt trong nước!

 

Chu Vương Miện viết như sau:

 

[Trích dẫn]

Sau 1975 th́ chị đi tù và năm 1990 th́ chị qua đây [Mỹ], với thân thế và sự nghiệp như vậy th́ có đến gần 50 phần trăm là giống như chị, Tôi với chị là chị em kết nghĩa năm nay người nào cũng ở vào tuổi 66-67 va thường xuyên đau ốm [tôi th́ năng hơn nhiều] mà trọn cuộc đời chị em gặp nhau có hai lần, giữa năm 1984 th́ gặp chị ở nhà chị Mai Khương [em gái thi sĩ Tuệ Mai [con của thi sĩ Á nam Trần tuấn Khải] và vào năm 1999 th́ đi với anh Hà Trung Yên  đến thăm chị ở tư gia gardena, gần Long Beach.

Đời thoáng qua hơn tia chớp , mới 12- 13 tuổi thủa nào? bây giờ th́ cũng xấp xỉ thất thập cổ lai hy? thời gian thất thoát nhanh thật, ngẫm nghĩ lại vừa đau thương vừa xót xa lại vừa tức cười như thơ của thi sĩ Chế Vân người Phan Thiết;

- giầu như một chiếc răng vàng

 nghèo như một điếu thuốc tàn trên môi

 

Ư của thi sĩ là anh nào nghiền thuốc lá, hút xong quăng tàn đi là hết suốt đời trắng tay, c̣n cái anh có chiếc răng vàng thi khi sống và khi chết bao giờ cũng giầu có v́ có răng vàng.

Thơ của chị Cao My Nhân  mấy năm sau này từ 2000 th́ hơi thiên về thiền học, và cửa nhà Phật, nh́n phía nào cũng toàn là Tứ đại giai Không . Mà sự thực th́ đúng boong như thế? bây giờ đây chị hay em nghoảnh mặt lại sau lưng mà nh́n:

- quê hương cũng không

- đất nước cũng không

- đều một thân phận lưu lạc quê người

- rồi già rồi bệnh rồi chết

 

cái thân cũng là không? cái danh cũng là không? th́ cái chuyện thơ văn xác định cao thấp cũng chỉ là quá thừa? cuối cùng th́ cũng chả khác ǵ mấy câu thơ của thầy á nguyên Cao bá Quát:

ba vạn sáu ngàn ngày là mấy

cảnh phù du trông thấy cũng nực cười

 

[Hết trích]

 

Tôi nghĩ giữa nhà thơ Chu Vương Miện và nữ sĩ Cao Mỵ Nhân trong cuộc sống và ư hướng cầm bút không có điểm nào giống nhau cả. Anh nói đến "thiền", đến "tứ đại giai không", rồi anh giải thích một quá ư tùy tiện. Anh coi thường những giá trị nhân bản của người cầm bút tị nạn, đổ lô đồng hạng cá mè một lứa!

 

Cái điểm khác nhau giữa Cao Mỵ Nhân và Chu Vương Miện ở chỗ Cao Mỵ Nhân là sĩ quan cấp tá, cựu tù nhân chính trị, phải tập trung cải tạo nhiều năm. Trong khi Chu Vương Miện không phải tập trung cải tạo lao động, chỉ phải học tập chính trị tại địa phương có 10 ngày, sau đó lại được Đảng và Nhà nước CSVN cho làm cán bộ văn hóa, đầu đội nón cối, vai đeo xà-cột đi thanh tra các tủ sách Phường Khóm ngay tại thành phố  "mang tên Bác"! Cao Mỵ Nhân qua Mỹ theo diện HO. Chu Vương Miện qua Mỹ sớm hơn rất nhiều theo diện di dân có bảo lănh!  Cao Mỵ Nhân viết với ư hướng tị nạn chính trị tích cực, đâu ra đó khá nghiêm chỉnh. Chu Vương Miện trước sau không hề là người tị nan chính trị cả, thường  viết với ư hướng bôi bác, tiêu cực, đùa cợt với chữ nghĩa!

 

Đừng nên nghĩ ḿnh là nhà văn, nhà thơ. Hăy nghĩ, trước tiên, ḿnh là người  tị nạn Cộng Sản. Nhưng là người tị nạn cầm bút, luôn luôn ư thức dùng ng̣i bút làm vũ khí chống kẻ thù chung của dân tộc là cái chế độ Cộng Sản độc tài phi nhân.  Khốn nỗi nhà thơ Chu Vương Miện không phải là người tị nạn chính trị, không hề bị CS bắt tù tội! Đ̣i hỏi ở Chu Vương Miện một điều trái với nguyện vọng và sở thích của anh có phải là một điều quá đáng và vô lư chăng?

 

 August 23, 2008

 Hồ Công Tâm      

 

 

---------------

 

THI CA THI NHÂN

CAO MỴ NHÂN

 

người viết chuvươngmiện

 
 

Nhà thơ sinh tại Chapa, Hoàng Liên Sơn. Học trường nữ tiểu học Lệ Hải, Hải pḥng. Vào Nam năm 1954. Học trung học Trưng Vương  Sài G̣n và trường nữ cán sự Xă Hội tại Centre Caritas thuộc ḍng nữ tu bác ái Sài g̣n. Sĩ  quan Việt Nam Cộng Ḥa [cấp bậc và chức vụ sau cùng Thiếu tá trưởng Pḥng xă hội. Bộ tư lệnh Quân Đoàn 1 và Quân Khu 1] Sau 1975, bị tập trung cải tạo. Hiện định cư tại Los Angeles California từ cuối năm 1991. Khởi viết truyện cổ tích và làm thơ từ nhỏ, những bài đăng đầu tiên trên các báo Liên Hiệp, Giang Sơn ở Hà Nội từ 19-3-1953. Đă có bài trên nhiều tuần báo, nguyệt san, bán nguyệt san, trong nước cũng như hải ngoại liên tục trong nhiều năm qua.tác phẩm đă xuất bản:

 

Hoa sao [thơ 1959] Thơ Mỵ 1 [ thơ 1961] Thơ Mỵ 2 [thơ 1997] Chốn bụi hồng [truyện 1994] Áo mầu xanh [1997] Lăng đăng vào thu [thơ 2001] Đưa người t́nh đi tu [thơ 2001]

 

có bài trong các tuyển tập tácphẩm:

 

Thơ văn Phật Giáo [Tth Song Thu – 1993] tt truyện ngắn 20 năm VHVN hải ngoại [văn bút 1995] Thơ T́nh Việtnam và thế giới [Nguyễn Hùng Trương , nxb Thanh Niên 1998] Thơ Thái Tú hạp [Sông thu 1999] Lưu dân thi thoại [Song nhi va Dien Nghị – Cội nguồn 2003.

 

[trích tác giả Việt nam của Lê Bảo Hoàng]

 

*

 

ta tưởng ḿnh thôi, xót nỗi câm

bao năm u uẩn với thơ thầm

có đâu bạn cũng sầu nhân thế

khiến để người thương lạc cơi âm

xuân cứ phai dần khi gió tạnh

thu càng tàn lụi lúc sương dầm

dèn soi tâm vọng hồn xơ xác

từng mảnh t́nh vơi mấy chục năm

 

mấy chục năm như khách lạ loài

đi về sớm tối đợi thời lai

ḷng không phấn khởi sao thư luyện

ư muốn đua tranh, mới kiếm mài

nhưng, vẫn vẹn nguyên ân nghĩa đẹp

thành, c̣n đôi chút phấn hương phai

buồn ơi đứng măi bên thềm mộng

vạn lư tương tư bóng ngả dài

 

[trích bóng xế [trang 27] thơ xướng họa

 

tóc bạc nhưng c̣n cặp mắt xanh

mơ màng dáng ngọc đẹp hồn tranh

thoảng hương mỹ nữ bên cây thị

thoáng bóng hồ ly cạnh gốc chanh

khanh tướng đôi khi c̣n ảo mộng

công hầu mấy thủa cũng hư danh

có chi để nói đời vương giả

nét bút tài hoa vẽ chiến chinh

 

vẽ chiến chinh quanh khói cuối hà

tháng ngày êm ấm sớm trôi qua

bao phen tủi phận thương t́nh khúc

nhiều lúc than thân hát quốc ca

sự nghiệpvưà tan trên nắng mỏng

tiền tài đă cạn trước thơ nḥa

ngẫm xem chân giả đời hư thực

vớ vẩn dăm điều tưởng tượng xa.

 

[ngắm tranh trang 141] thơ xướng họa.

 

*

giấc nam kha khéo bất b́nh

bùng con mắt dậy thấy ḿnh tay không/

[Cung oán ngâm khúc – Ôn như hầu Nguyễn gia Thiều]

 

Chị Cao Mỵ Nhân sinh vào năm 1940 [tuôi Th́n] hơn tôi 1 tuổi, hồi nhỏ chị sinh ở Sapa [bây giờ là Hoàng Liên Sơn]  có sông Nam Na, có hoa ban nở vào mùa xuân [và có rất nhiều dân tộc thiểu số  như sán d́u sán cháy  người mèo người thái và người thổ. sau về  thành phố Hải Pḥng thuộc tỉnh Kiến An. chị học ở trường nữ tiểu học ở cuối đường trại cau, từ nhà chị ở Tám Gian [gần rạp hát Kim Chung tiếng chuông vàng hải cảng] đi đến trường phải qua ngă tư Cầu Đất  đến ngă ba đường hàng Kênh chợ con cánh gà, đi qua trường trung tiểu Học Bạch Đằng là đến trường Lệ Hải [ở bên phải].

c̣n phần tiếp theo th́ y như phần của tác giả Lê bảo Hoàng [ghi ở phần tiểu sử].

Sau 1975 th́ chị đi tù và năm 1990 th́ chị qua đây [Mỹ], với thân thế và sự nghiệp như vậy th́ có đến gần 50 phần trăm là giống như chị, Tôi với chị là chị em kết nghĩa năm nay người nào cũng ở vào tuổi 66-67 va thường xuyên đau ốm [tôi th́ năng hơn nhiều] mà trọn cuộc đời chị em gặp nhau có hai lần, giữa năm 1984 th́ gặp chị ở nhà chị Mai Khương [em gái thi sĩ Tuệ Mai [con của thi sĩ Á nam Trần tuấn Khải] và vào năm 1999 th́ đi với anh Hà Trung Yên  đến thăm chị ở tư gia gardena, gần Long Beach.

Đời thoáng qua hơn tia chớp , mới 12- 13 tuổi thủa nào? bây giờ th́ cũng xấp xỉ thất thập cổ lai hy? thời gian thất thoát nhanh thật, ngẫm nghĩ lại vừa đau thương vừa xót xa lại vừa tức cười như thơ của thi sĩ Chế Vân người Phan Thiết;

- giầu như một chiếc răng vàng

 nghèo như một điếu thuốc tàn trên môi

 

Ư của thi sĩ là anh nào nghiền thuốc lá, hút xong quăng tàn đi là hết suốt đời trắng tay, c̣n cái anh có chiếc răng vàng thi khi sống và khi chết bao giờ cũng giầu có v́ có răng vàng.

Thơ của chị Cao My Nhân  mấy năm sau này từ 2000 th́ hơi thiên về thiền học, và cửa nhà Phật, nh́n phía nào cũng toàn là Tứ đại giai Không . Mà sự thực th́ đúng boong như thế? bây giờ đây chị hay em nghoảnh mặt lại sau lưng mà nh́n:

- quê hương cũng không

- đất nước cũng không

- đều một thân phận lưulạc quê người

- rồi già rồi bệnh rồi chết

 

cái thân cũng là không? cái danh cũng là không? th́ cái chuyện thơ văn xác định cao thấp cũng chỉ là quá thừa? cuối cùng th́ cũng chả khác ǵ mấy câu thơ của thầy á nguyên Cao bá Quát:

ba vạn sáu ngàn ngày là mấy

cảnh phù du trông thấy cũng nực cười

*

thơ trích.

 

sa pa quê tôi

 

Sapa quê cũ cỏ xanh đồng

từng vạt đào tươi ánh núi sông

sương giá đôi tà xuân chói ngọn

tuyết mù một thủa nắng xuyên vồng

có khi băo lũ lúa khe vọng

gặp lúc mưa nguờn đốt lửa chong

niên thiếu tôi thường hơi nụ nấm

mọc tràn trên đá xóa phai ḷng

 

thế rồi súng nổ quanh thôn bản

biên giới người đi dấu ngựa đầy

trấn thủ gặp thời xa cốclếu

lưu đồn mấy lúc vượt cầumây

tiếng cồng kẻ gơ ngày tan hpội

dùi trống ai khua buổi họp bầy

tất cả xô nhau vào quá khứ

và, tôi lang bạt măi trời tây.

 

 

cám cảnh biển dâu

 

cuộc thế nào không có đớn đau

phù sinh hỉ nộ với u sấu

mới vừa nô dỡn nơi bờ biển

đă thấy im ĺm ở băi dâu

mây nổi từng cơn che đỉnh núi

sóng cuồng mỡi lúc xoáy hang sâu

hoài công xô vỡ rồi xây dựng

nhật nguyệt già thêm trước bóng câu

 

 

 

ngôn ngữ rồng mây

 

quê hương giă biệt tạm chia tay

từ độ non sông giặc giă đầy

tiếng mẹ qua cầu rơi chẳng rơ

lời cha theo gió rụng không hay

thương quê đắm đuối văn miêu tả

nhớ nước miên man bút tỏ bầy

đá tạc núi ghi ḍng chữ nghĩa

năm châu ngôn ngữ vượt rồng mây

 

 

 

mộng mơ

 

hương phấn trào tuôn dưới ngón tay

rắc reo thơ bướm nét thơ gầy

cây khô cỏ úa nên vườn mộng

trái đắng vị chua thành rượu say

thêu dệt hoa thơm đường klhổ lụy

ngợi ca t́nh đẹp chốn tù đầy

chờ người tri kỷ trao tâm sự

mây gió lậng lâng bổng cánh bay

  

 

chuvươngmiện

 

[Văn học & NT]     [Trang chính]