2 tháng 9: Ngày khai sinh đất nước hay ngày một chế độ giành quyền lực?

 

Hoai Linh Ngoc Duong

 

 

Mỗi năm đến ngày 2/9, nhà nước Việt Nam kỷ niệm ngày Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 và tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa.

 

Nhưng nếu bỏ qua những khẩu hiệu chính trị để nh́n vấn đề bằng logic lịch sử, cần phân biệt ba khái niệm hoàn toàn khác nhau: đất nước Việt Nam, nhà nước Việt Nam và chế độ chính trị đang cai trị Việt Nam.

 

Việt Nam chắc chắn không được “khai sinh” vào ngày 2/9/1945.

 

Nếu Việt Nam có lịch sử hàng ngh́n năm, có thời Hùng Vương, Ngô, Đinh, Lư, Trần, Lê, Nguyễn…, th́ dân tộc và quốc gia Việt Nam hiển nhiên đă tồn tại từ rất lâu trước Hồ Chí Minh, Việt Minh và Đảng Cộng sản.

 

Một triều đại xuất hiện không làm đất nước sinh ra. Một triều đại sụp đổ cũng không làm đất nước biến mất.

 

Điều tương tự phải được áp dụng cho mọi chế độ chính trị.

 

Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, phá vỡ bộ máy thuộc địa của Pháp tại Đông Dương. Ngày 11/3, vua Bảo Đại tuyên bố hủy bỏ các hiệp ước bảo hộ với Pháp và tuyên bố Việt Nam độc lập.

 

Sau đó chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập. Nền độc lập ấy bị giới hạn nghiêm trọng bởi sự hiện diện của quân đội Nhật, nhưng đây vẫn là một sự kiện lịch sử xảy ra trước ngày 2/9.

 

Tháng 8/1945, Nhật đầu hàng Đồng minh. Khoảng trống quyền lực xuất hiện. Việt Minh tiến hành Tổng khởi nghĩa, giành chính quyền; Bảo Đại thoái vị. Ngày 2/9, Hồ Chí Minh tuyên bố thành lập một nhà nước mới mang tên Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa.

 

V́ vậy, xét thuần túy về lịch sử, cách diễn đạt chính xác nhất không phải là “ngày khai sinh đất nước Việt Nam”, mà là ngày tuyên bố thành lập một nhà nước mới sau một cuộc chuyển giao quyền lực mang tính cách mạng năm 1945.

 

Nhưng c̣n một câu hỏi khác: chữ “Dân chủ Cộng ḥa” trong tên gọi ấy có đồng nghĩa với việc Việt Nam từ đó đă trở thành một nền dân chủ cộng ḥa theo nghĩa hiện đại hay không?

 

Không nhất thiết.

 

“Cộng ḥa” về mặt khoa học chính trị trước hết chỉ một nhà nước trong đó nguyên thủ không phải một quân vương thế tập. Nó không tự động đồng nghĩa với dân chủ. Trên thế giới từng tồn tại và vẫn tồn tại những nước mang danh nghĩa “cộng ḥa” nhưng quyền lực chính trị lại tập trung vào một đảng, một nhóm lănh đạo hoặc một cá nhân.

 

Bởi vậy, vấn đề quan trọng hơn cái tên là: quyền lực tối cao thực sự thuộc về ai?

 

Trong một nền dân chủ đại diện, người dân phải có khả năng lựa chọn giữa những lực lượng chính trị cạnh tranh nhau; người cầm quyền có thể bị thay thế thông qua bầu cử; hiến pháp giới hạn quyền lực nhà nước; tư pháp có khả năng kiểm soát hành pháp; báo chí và xă hội dân sự có quyền giám sát chính quyền.

 

Trong hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai tṛ lănh đạo được hiến định. Những vị trí quyền lực cao nhất của Đảng, đặc biệt Tổng Bí thư và Bộ Chính trị, không được toàn thể cử tri lựa chọn trong một cuộc bầu cử cạnh tranh giữa nhiều đảng.

 

Người dân bầu Quốc hội, nhưng không có cơ chế bầu cử đa đảng để lựa chọn một đảng khác thay Đảng Cộng sản cầm quyền.

 

Do đó, Việt Nam có thể được mô tả chính xác về khoa học chính trị là một nhà nước cộng ḥa theo h́nh thức hiến định nhưng vận hành trong hệ thống độc đảng, chứ không phải một nền dân chủ cộng ḥa đa nguyên theo mô h́nh phương Tây.

Từ đây mới xuất hiện nghịch lư đáng suy nghĩ.

 

Chế độ quân chủ truyền thống đặt quyền lực tối cao vào một ḍng họ. Chế độ độc đảng đặt quyền lực chính trị tối cao vào một tổ chức duy nhất. Hai hệ thống không giống nhau về pháp lư và lịch sử, nhưng có thể có một điểm tương đồng về cấu trúc quyền lực: người dân không có khả năng dùng lá phiếu để lựa chọn một lực lượng chính trị đối lập lên thay lực lượng đang cai trị.

 

Theo nghĩa ẩn dụ ấy, có thể gọi hiện tượng này là một dạng “quân chủ đảng trị”: ngai vàng không c̣n truyền từ cha sang con, nhưng quyền cai trị vẫn được chuyển giao chủ yếu bên trong một cấu trúc quyền lực mà người dân không thể thay thế bằng cạnh tranh chính trị tự do.

 

Đây chỉ là một phép so sánh, không phải tên gọi pháp lư của chế độ Việt Nam. Nhưng phép so sánh ấy đặt ra câu hỏi quan trọng hơn mọi danh xưng:

Nếu nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực th́ nhân dân có quyền thay đổi người cai trị hay không?

 

Một ông vua có thể tuyên bố ḿnh cai trị “v́ dân”. Một đảng cũng có thể tuyên bố ḿnh lănh đạo “do dân, v́ dân”. Nhưng trong tư tưởng dân chủ hiện đại, quyền lực thuộc về nhân dân không được chứng minh bằng khẩu hiệu.

 

Nó được chứng minh bằng khả năng thực tế của người dân trao quyền, giới hạn quyền và thu hồi quyền lực thông qua những thiết chế chính trị có cạnh tranh.

 

Đó cũng là lư do cần thận trọng khi đồng nhất ngày 2/9 với “ngày khai sinh Việt Nam”.

 

Việt Nam đă tồn tại trước năm 1945. Chính quyền Bảo Đại tồn tại rồi chấm dứt. Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa được thành lập. Sau đó chiến tranh, chia cắt và thống nhất lại tạo ra những nhà nước và cấu trúc chính trị khác nhau.

 

Nhưng dân tộc Việt Nam vẫn tồn tại xuyên qua tất cả những biến động ấy.

 

Một đất nước không sinh ra mỗi lần chế độ thay đổi.

 

Nếu ngày mai Việt Nam chuyển từ độc đảng sang đa đảng, đất nước Việt Nam cũng không được “khai sinh” thêm một lần nữa. Đó chỉ là một sự thay đổi thể chế của một quốc gia đă tồn tại từ trước. 

 

V́ vậy, cách nh́n hợp lư hơn về ngày 2/9 là: đó là một dấu mốc cực kỳ quan trọng của lịch sử chính trị Việt Nam năm 1945 — ngày một nhà nước mới được tuyên bố thành lập — chứ không phải ngày dân tộc Việt Nam bắt đầu tồn tại.

 

Triều Nguyễn không phải Việt Nam.

 

Đảng Cộng sản cũng không phải Việt Nam.

 

Một chính phủ không phải Tổ quốc.

 

Một chế độ càng không thể nắm quyền sở hữu lịch sử của cả dân tộc.

 

Các triều đại có ngày bắt đầu và ngày kết thúc. Các chế độ cũng vậy. Nhưng đất nước thuộc về những thế hệ người Việt đă sống trước chúng ta, đang sống hôm nay và sẽ c̣n sống sau mọi chế độ chính trị.

 

Có lẽ đó mới là ranh giới quan trọng nhất cần hiểu khi nói về hai chữ Quốc khánh.

 

 

Hoai Linh Ngoc Duong

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính