Trả lời Trần Hùng Văn, tức Việt Thường

 

-Bài 1-

 

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

 

 

Kính thưa quư độc giả

Thưa quư vị,

 

Hôm nay, ngày 8 tháng 9 năm 2014. Chúng tôi bắt đầu viết loạt bài: Trả lời Trần Hùng Văn, tức Việt Thường. 

 

V́ thế, trước hết, chúng tôi xin phép quư vị cho tôi được tŕnh bày những nguyên nhân khiến cho tôi phải viết bài này, để trả lời Trần Hùng Văn, tức Việt Thường như sau:

 

Như quư vị đă biết, trong suốt cả một thời gian dài vừa qua, Trần Hùng Văn, một kẻ mà trước ngày 30/4/1975, ông ta ở bên kia gịng sông Bến Hải, hay nói cho đúng hơn là người Bên Kia Chiến Tuyến; c̣n tôi là một người được sinh ra và trưởng thành tại miền Nam: Việt Nam Cộng Ḥa ở phía bờ Nam của chiếc cầu Hiền Lương; tôi không hề biết mặt của Trần Hùng Văn, th́ đúng ra, tôi không cần phải lên tiếng trả lời.

 

1- Ông Lê Xuân Nhuận đă viết về Trần Hùng Văn, tức Việt Thường:

 

Theo lời của ông Lê Xuân Nhuận đă viết. Xin được trích lại nguyên văn, kể cả những chữ tô mầu đỏ như sau:

 

“Theo ông VIỆT THƯỜNG

(Cựu đảng-viên cao-cấp Cộng-Sản Việt-Nam):

 

          ... Nguyễn công Tài đă dành nhiều thời gian để nghiên cứu hàng núi hồ sơ về gia đ́nh nhà ông Ngô Đ́nh Diệm và những người kế cận, cũng như những người đối lập. Tài liệu cập nhật từ nhiều nguồn, nhưng phần đóng góp của nội gián Phạm ngọc Thảo là rất quan trọng. Làm sao phải chọn người tiếp xúc thật đúng mà lại bảo toàn bí mật. Cuối cùng, sau nhiều ngày đêm suy nghĩ, Nguyễn công Tài đă lựa nhân vật Mă Tuyên, người Tàu ở Chợ-lớn đang làm công việc kinh tài cho gia đ́nh ông Ngô Đ́nh Diệm.

            Thông qua dịch vụ buôn bán táo bạo, Nguyễn công Tài đă tiếp xúc trực tiếp được với Mă Tuyên. Và, cái thời điểm để đưa ư kiến cho Mă Tuyên “gợi ư” với anh em ông Ngô Đ́nh Diệm là sau tháng 2-1962, sau cái ngày mà hai trung uư của quân đội ông Diệm là Phạm Phú Quốc và Nguyễn văn Cử ném bom dinh Độc Lập làm đảo chính. Sự việc của hai trung uư Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử tuy không thành công nhưng nó lại là lư do hợp thời để Nguyễn Công Tài làm cuộc tiếp xúc với anh em ông Diệm, Nhu thông qua thương gia người Tàu ở Chợ-lớn là Mă Tuyên. Tín hiệu có thuận lợi. Quả nhiên ông Nhu nhận sự tiếp xúc một cách thận trọng và kéo dài thời gian để mặc cả cho cái giá đi đêm. Nguyễn công Tài có nhận xét là anh em ông Diệm, Nhu tuy học ở Pháp và Mỹ về nhưng óc bài ngoại cực đoan như Tự Đức và cũng có mộng Việt Nam sẽ gồm cả Miên và Lào và phải là cường quốc ở châu Á.

            Sự việc tin đi mối lại chỉ dừng ở đó. Phải cho đến lúc được phép của ông Line, Nguyễn công Tài cung cấp cho ông Nhu một số tài liệu chứng minh người Mỹ muốn lưu lại ông Diệm c̣n vợ chồng ông Nhu phải đi lưu vong nước ngoài, cũng như họ trước sau cũng buộc ông Diệm phải từ bỏ chế độ độc tài, gia đ́nh trị, phải chia quyền lănh đạo cho các đảng phái cũng như phải có chính sách b́nh đẳng tôn giáo. Ông Nhu chấp nhận một cuộc gặp gỡ với phái viên đặc biệt của ông Line. Có thể đây chỉ là giải pháp pḥng ngừa mà cũng có thể ông Nhu muốn hiểu rơ hơn ư đồ của địch. Những điều này c̣n là bí ẩn đi theo ông Nhu xuống tuyền đài.

            Phạm Hùng nhận những chỉ thị toàn quyền hành động từ ông Line tại phủ toàn quyền Đông Dương ở Ba-Đ́nh (Hà-nội) và cấp tốc đi Nam bằng cả ba thứ phương tiện: thủy, bộ và hàng không.

            Đầu tháng 2-1963, cuộc họp “bí mật” giữa ông Ngô Đ́nh NhuPhạm Hùng diễn ra tại một địa điểm kín đáo ở quận Tánh Linh, tỉnh B́nh Tuy. Trong cuộc họp này có cả Nguyễn công Tài cũng được dự. Khi chia tay, cả hai bên đều hỷ hả. Nội dung cuộc họp vẫn c̣n nằm trong bí mật cho đến nay.

            Đầu tháng 11-1963, các tướng trong quân đội của ông Diệm làm đảo chánh thành công. Anh em ông Diệm, Nhu theo đường hầm trốn vào Chợ-lớn ở nhà Mă Tuyên. Phải chăng hai anh em ông Diệm, Nhu định chờ người của Phạm Hùng và Nguyễn công Tài đến đón ra bưng biền?

            Người duy nhất c̣n lại là Nguyễn công Tài, sau này “t́nh cờ” làm cái việc xét căn cước, cảnh sát của miền Nam đă bắt được Nguyễn công Tài. Người Mỹ đă cho giam Nguyễn Công Tài ở Bạch Đằng (Sài-g̣n), cho hưởng mọi tiện nghi vật chất rất cao và cũng được ngồi xe hơi (tất nhiên có bảo vệ) đi “tham quan” phố xá Sài-g̣n. Đến 1975, trước khi đứt phim miền Nam, Mỹ đă thả Nguyễn công Tài ra...” (Lê Xuân Nhuận)

 

Song cho dù Trần Hùng Văn là “Cựu đảng-viên cao-cấp Cộng-Sản Việt-Nam”, như ông Lê Xuân Nhuận đă viết như trên, th́ tôi cũng chưa viết một lời nào, để được gọi là “chống” ông ta, nhưng Trần Hùng Văn đă vô cớ t́m mọi cách để viết ra vô số những chuyện, kể cả những chuyện hoàn toàn bịa đặt về đời tư, để bêu riếu, miệt thị chúng tôi; nhưng lại núp dưới tên của kẻ khác, chứ không công khai lên tiếng.

 

Chính v́ thế, chúng tôi đă phải t́m mọi cách, để CẠY cái mồm của Trần Hùng Văn, buộc chính Trần Hùng Văn phải mở miệng. Và Trần Hùng Văn ĐĂ PHẢI MỞ MIỆNG!

 

Trần Hùng Văn mở miệng, hay chúng tôi đă buộc Trần Hùng Văn phải mở miệng, và chỉ cần một lần là đủ. Chúng tôi chờ có thế, v́ đó mới là lúc chúng tôi lên tiếng, v́ ngoài Trần Hùng Văn, chúng tôi không bao giờ trả lời cho bất cứ một kẻ nào là “đồng chí” của Trần Hùng Văn. Và chúng tôi cũng chỉ lên tiếng, để nói cho hết một lần thôi, rồi sau đó, chúng tôi không cần phải nhắc tới Trần Hùng Văn nữa!

 

Kính thưa quư vị,

 

Nhân thời điểm Trần Hùng Văn đă công khai lên tiếng qua một audio, nên chúng tôi cũng phải lên tiếng, với mục đích chính, là để cho quư độc giả ở tại quốc nội và hải ngoại đều được biết rằng:  Tất cả những ǵ do Trần Hùng Văn, tức Việt Thường viết và nói ra đều là những chuyện hoàn toàn bịa đặt, để vu khống, chụp mũ và miệt thị chúng tôi cũng như nhiều người nữa.

 

Và trước khi đưa bài này lên các diễn đàn, tôi đă viết xong một bài dài hơn 18 (mười tám) trang, qua bài ấy, tôi đă nói gần hết những ǵ tôi đă làm trước ngày 30/4/1975. Tôi cũng đă lục t́m lại những giấy tờ cũ, với ư định sẽ chia bài viết thành hai kỳ, rồi kèm các giấy tờ c̣n giữ được, để đưa lên các diễn đàn. Thế nhưng, sau nhiều lần suy nghĩ , tôi đă tự vấn: ḿnh có nên đưa bài ấy lên hay không?

 

Và cuối cùng, tôi đă quyết định là KHÔNG.

 

Tại sao tôi quyết định như vậy?

 

Xin thưa: v́ tôi nhớ lại hai năm bị Công an Đà Nẵng bắt giam, rồi từ nhà giam Kho Đạn, Chợ Cồn, Đà Nẵng, tôi đă bị đưa vào nhà giam Hội An và Tam Kỳ, và qua những lần gặp “cán bộ chấp pháp”, tức Công an thẩm cung, với không biết bao nhiêu lần phải viết những “Bản tường thuật – Tờ khai lư lịch” với những đ̣i hỏi, người viết phải “tự khai” về lư lịch ba đời, mà c̣n phải viết theo dưới cái:

“Tiêu chuẩn: Thành thật khai báo về bản thân. Sẵn sàng tố cáo tội ác của người khác mà ḿnh biết”.

 

Với cái gọi là “Tiêu chuẩn” này, các vị đă từng bị thẩm cung có lẽ c̣n nhớ, nạn nhân chẳng những phải khai hết lư lịch ba đời, phải khai rơ ràng về đảng phái, tôn giáo của ḿnh, mà c̣n phải ghi thêm tên họ, địa chỉ của ba người bạn thân nhất nữa.

 

Chính v́ thế, sau khi đọc lại bài viết hơn 18 trang, đă khiến cho tôi phải giật ḿnh, v́ tự thấy rằng ḿnh đă bị rơi vào cái bẫy của “cán bộ chấp pháp”. Tôi tự hỏi, tại sao trong suốt hai năm bị Công an “giam cứu” trước khi đưa vào trại “tập trung cải tạo”, dù phải viết hàng bao nhiêu lần những “Tờ khai lư lịch” và “BảnTường thuật” , nhưng tôi vẫn viết một nội dung giống nhau, không thay đổi. Thế th́, tại sao bây giờ tôi lại dại dột đi viết một “Tờ khai lư lịch - Bản tường thuật” do những thủ đoạn của “nghiệp vụ chuyên môn” của Trần Hùng Văn?

 

Thế rồi tôi bỗng ôn lại những bài học lịch sử trên thế giới, mà ḿnh c̣n nhớ được:

 

Tại sao Đại đế Napoléon phải thua trận; tại sao Pouché thắng Robespierre, tại sao Trotsky một người có tŕnh độ học vấn cao, nhưng phải thua Staline một kẻ ít học; tại sao một Châu Du cũng đầy thủ đoạn, mà phải thảm bại trước mưu trí của Khổng Minh; tại sao Tưởng Giới Thạch dù đă thắng được trận Thụy Kim, nhưng cũng phải bại trận trước họ Mao dù họ Mao không có chính nghĩa.. tại sao và tại sao?

 

Từ những câu hỏi ấy, khiến cho tôi đă quyết định bỏ một bài viết dài tới hơn 18 trang, mà nếu tôi dại dột đưa lên các diễn đàn, là tôi đă tự khai hết lư lịch của ḿnh; bởi thủ đoạn của Trần Hùng Văn, là một “Cựu đảng-viên cao-cấp Cộng-Sản Việt-Nam”.

 

 

2- Tôi không bao giờ thua trí trước Trần Hùng Văn:

 

Không! Tôi, Hàn Giang Trần Lệ Tuyền, không đời nào tôi phải chịu thua trí trước một tay thầy bói Trần Hùng Văn; bởi tôi được sinh trưởng, được sự giáo dục dưới mái học đường và gia đ́nh tại Nước Việt Nam Cộng Ḥa, từng một thời phục vụ tại C1 Lực Lượng Đặc Biệt, KBC 3425, và đă hai lần thành công trong công tác đặc biệt, để “lấy khẩu cung như không khẩu cung” một cách dễ dàng, từ hai “Sĩ quan cao cấp” của “bộ đội chính quy” Bắc Việt, khi hai người này bị thương rất nặng, bị bỏ lại trong rừng, vết thương có ḍi ḅ lúc nhúc, đă được quân đội Hoa Kỳ cứu, đưa lên trực thăng đem về Bệnh viện Mỹ, tại Chu Lai để cứu chữa. Nhưng hai tên này, quyết không mở miệng, cho dù trước đó, một đàn chị của tôi đă “trổ tài” nhưng không có kết quả. Nên sau đó, qua tài “hóa trang” của một “đàn chị”; tôi, trong trong vai “một đứa con gái nghèo khổ, con của một người đàn bà ở đợ cho một gia đ́nh giàu có người Bắc, đă đưa hai mẹ con di cư vào Nam, đang sống đói rách, đau khổ”; với trên tay là một chiếc giỏ cói đă rách, tôi “đi t́m thăm thân nhân” tại bệnh viện Hoa Kỳ, tại Chu Lai.

 

Tưởng cũng nên nhắc lại, bệnh viện Mỹ tại Chu Lai, ở đấy,  từ các bác sĩ và y tá đều là người Mỹ, c̣n người Việt chỉ làm công việc bồi pḥng, nấu ăn, và bưng cơm nước cho bệnh nhân, chứ không được sờ tay vào bệnh nhân.

 

Bệnh viện này, đă cứu chữa cho tất cả mọi người không phân biệt Quốc Gia hay Cộng sản, kể cả những cán binh, du kích Cộng sản bị thương nặng, bị bỏ rơi trong rừng, và thân nhân của họ cũng được vào thăm vào ban ngày; không được ôm hay đặt tay vào người thân.

 

Trở lại với hai “sĩ quan cao cấp” của “quân chính quy” Bắc Việt. Thời gian đầu, v́ tin những lời tuyên truyền của Cộng sản Hà Nội rằng: “Khi bị bắt khai cũng chết, không khai cũng chết”, nên hai người này không chịu mở miệng. Nhưng sau khi đă gặp tôi, th́ họ đă mở miệng, đă “khai như không khai”; nhờ thế, mà phía Hoa Kỳ đă biết nhiều bí mật. Một thời gian sau, hai người này đă chính thức xin Hồi Chánh, và đă được Hoa Kỳ tưởng thưởng…

 

Đó là những người Cộng sản đă tỉnh ngộ, khi thật sự trở về với Chính-Nghĩa Quốc-Gia Dân-Tộc. C̣nTrần Hùng Văn là một tay thầy bói dưới chế độ Cộng sản Bắc Việt, nhưng  đă được đảng Cộng sản Hà Nội dành cho nhiều ưu đăi đặc biệt như nhà báo Thế Huy đă viết qua bài: “Việt Thường, ông là ai?” như sau:

 

“… Không những thế, ngay sau 30/4/1975, Việt Thường được gửi vào Sàigon để quan-sát, nghiên-cứu hầu đưa ra các nhận-định về VNCH. Điều đó có nghĩa là VC không tin-tưởng vào những tay sừng-sỏ trong ngành điệp-báo của họ nằm trong các cơ-quan đầu năo của VNCH và trong mọi ngành-nghề khác suốt mấy chục năm và… nghi-ngờ cả những báo-cáo của Trung-Ương Cục CS Miền Nam trong suốt cuộc chiến xâm-lược của chúng, nên chúng phải gửi Việt Thường vào Sàig̣n để nhận định thêm. “Điều này chỉ đúng nếu Việt Thường là Cố-Vấn Tối-Cao của Bộ-Chính-Trị/TƯĐCSVN”. (ngưng trích)

 

Tuy nhiên, suốt trong thời gian qua, Trần Hùng Văn đă lấy những ư kiến trên các diễn đàn, và những ǵ do ông Lê Xuân Nhuận viết ra, không cần biết đúng, sai, miễn là có lợi cho Trần Hùng Văn là y cứ lải nhải, nhai đi, nhai lại, cũng như đă bịa đặt ra vô số những chuyện trên trời, dưới đất với mục đích là để bôi nhọ danh dự của người khác, không phải riêng tôi, mà Trần Hùng Văn đă bịa đặt ra những điều không hề có, để bôi nhọ rất nhiều người trong cộng đồng người Việt từ quốc nội và hải ngoại, để ly gián giữa những người Việt Quốc Gia yêu nước chân chính và chống Cộng thực sự.

 

 

3- Trần Đăng Sơn không phải là “Trung tá t́nh báo an ninh VGCS”:

 

Riêng với tôi, Trần Hùng Văn đă nói về một người là “Trần Đăng Sơn Trung tá t́nh báo an ninh VGCS và Trần Lệ Tuyền ở Liên Khu 5” của Việt cộng; (chỉ nội cái gọi là “t́nh báo an ninh” đă là rất ngu rồi). Trần Hùng Văn cũng bịa chuyện đời tư rằng tôi “có chồng bị liệt”.

 

Những điều trên đây, tôi không muốn trả lời cho Trần Hùng Văn, mà mục đích của tôi, là tôi xin thưa cùng với quư vị trong cộng đồng người Việt tỵ nạn Cộng sản tại hải ngoại, cũng như quư độc giả tại quốc nội rằng:

Trước ngày 30/4/1975, tôi sống tại Thành phố Đà Nẵng, th́ không riêng tôi, mà người dân Quảng Nam-Đà Nẵng đa số có nghe nói về Trần Đăng Sơn (TĐS), nhưng tôi không hề gặp mặt TĐS,  mà tôi chỉ gặp TĐS lần đầu tiên, vào mùa Hè năm 1984, lúc ấy, TĐS đang bị bệnh nặng, phải chống gậy tại bệnh xá của nhà tù T.154, tức “trại cải tạo” Tiên Lănh, Tiên Phước, Quảng Nam.  Đây là lần đầu tiên tôi thấy mặt TĐS trong nhà tù, nhưng không chào hỏi ǵ cả. Tuy vậy, nhưng qua nhiều vị  trong trại nam, tôi được biết, lúc ấy, đă gần mười năm ở trong nhà tù, TĐS không có một ai là thân nhân đi thăm nuôi cả. Do vậy, nên rất thiếu thốn, rồi bệnh tật không có thuốc men.

 

Trước hoàn cảnh ấy, tôi đă xin Công an trại gửi cho TĐS ít quà thăm nuôi, nhưng qua “trật tự” của trại, chứ tôi không gặp mặt TĐS lần thứ hai trong nhà tù “cải tạo”. Nhắc lại chuyện này, tôi nhớ đến Người Mẹ của của tôi, Mẹ rất thương tôi, đứa con gái c̣n trẻ, c̣n độc thân mà phải chịu cảnh ở tù, nên Mẹ thường xuyên lên trại thăm nuôi. V́ thế, mỗi khi thấy người đồng tù thiếu thốn, tôi đều muốn giúp đỡ, những điều này, tôi không bao giờ nhắc lại, nhưng nhiều vị cựu tù “cải tạo” có lẽ c̣n nhớ.

 

Tôi biết trước 30/4/1975, Trần Đăng Sơn là Chủ tịch Việt Nam Quốc Dân Đảng miền Trung dưới sự lănh đạo của cụ Vũ Hồng Khanh. TĐS tuổi Đinh Sửu, 1937, không thể có mặt tại “Liên Khu 5” của Việt cộng, v́ lúc đó chỉ trên dưới 10 (mười) tuổi, Trần Đăng Sơn không ra chiến khu của Việt cộng, không phải là “Trung tá của VGCS” nên không có cái chuyện “chiêu hồi”; cũng không là “Trung tá, phó ty Công an Đà Nẵng”. Mà TĐS cũng phải vào tù như quư vị Cựu Tù Nhân Chính Trị Quảng Nam-Đà Nẵng đă biết. Và TĐS và tôi không hề “đi với Hoàng Duy Hùng sang Thái Lan...” như Trần Hùng Văn đă nói Láo.

 

Riêng ông Lê Xuân Nhuận đă từng viết hai bài:

 

“Ông Ngô Đ́nh Diệm có một t́nh nhân - Ông Ngô Đ́nh Diệm có một đứa con rơi”.

 

Hai câu chuyện mà ông Lê Xuân Nhuận đă viết cũng như chính Trần Hùng Văn đă viết về Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, mà chúng tôi sẽ có loạt bài viết khác.

 

Về phần tôi, cái gọi là “Liên Khu 5” của Việt cộng, tôi không biết rơ lắm, nhưng nghe nhiều người nói, là đă có vào thời điểm khoảng 1946 – 1947,  lúc ấy, Cha tôi chưa gặp Mẹ tôi, chưa cưới Mẹ của tôi. Nghĩa là tôi chưa được sinh ra đời. Vậy, muốn bịa đặt, dựng chuyện láo, th́ phải biết khôn một chút nghe chưa, Trần Hùng Văn.

 

 

4- Cấp bậc Trung tá của Trần Đăng Sơn:

 

Về cái “cấp bậc Trung tá” của Trần Đăng Sơn, là do cựu tướng Nguyễn Cao Kỳ gắn “lon” cho trong Chiến Dịch Hành Quân Đinh Bộ Lĩnh, trong cuộc bạo loạn Bàn thờ Phật xuống đường tại miền Trung vào mùa Hè, 1966. Với “cấp bậc” là “Trung tá Giả Định Dân Sự Đặc Biệt”. Nghĩa là TĐS không phải là Trung tá thực thụ, mà chỉ là “Giả Định” dành cho “Dân Sự Đặc Biệt”. Những người được chính phủ “gắn lon “Sĩ quan Giả Định Dân Sự Đặc Biệt” là những người không ở trong quân đội, họ có thể là những người ngoài hạn tuổi Quân Dịch , hoặc được cấp giấy Miễn Dịch, v́ lư do con một, hay v́ sức khỏe. Những người này, họ có thể nằm trong các tổ chức đảng phái chính trị, hoặc các tổ chức khác. Thế nhưng, trong một Chiến Dịch nào đó, nếu họ có thực lực, v́ xét thấy cần họ tiếp tay, th́ chính phủ gắn lon cho họ, để họ được chỉ huy một đơn vị nào đó, để văn hồi an ninh trên những vùng đất đă bị chiếm một cách bất hợp pháp.

 

Và những “cấp bậc Trung tá Giả Định Dân Sự Đặc Biệt”, chỉ có giá trị trong một thời gian ngắn, có thể từ một tuần tới sáu tháng; sau khi Chiến Dịch ấy hoàn tất, th́ những người này đều trở về với đời sống dân sự của ḿnh, trừ những “Sĩ Quan Giả Định” khác (không có thêm bốn chữ “Dân Sự Đặc Biệt”, các vị ấy là những Sĩ quan thực thụ, ở cấp thấp hơn, nhưng v́ khả năng chuyên môn, nên chính phủ phải “thăng cấp”  là “Sĩ quan Giả Định” để làm “giáo sư” ở các trường mà sinh viên lại mang cấp bậc ngang bằng với giáo sư, đây là một vấn đề tế nhị thôi.

 

Tuy nhiên, sau ngày 30/4/1975, đảng Cộng sản Hà Nội đă bỏ tù những “Sĩ quan Giả Định Dân Sự Đặc Biệt” này, như các vị Sĩ quan thực thụ. Riêng TĐS, đă bị Việt cộng bỏ tù v́ cả hai “tội”: VNQD Đ và cái “Trung tá Giả Định Dân Sự Đặc Biệt”. Bởi v́, tại Quảng Nam-Đà Nẵng, đa số dân-quân VNCH,  đă thấy Trần Đăng Sơn đeo lon Trung tá QLVNCH trước mặt mọi người trong Chiến Dịch Hành Quân Đinh Bộ Lĩnh, mùa Hè 1966.

 

Nhưng theo tôi, những chuyện này, ngay tại miền Nam: Việt Nam Cộng Ḥa cũng ít người hiểu biết về cái “Trung tá Giả Định Dân Sự Đặc Biệt” là cái ǵ, nên có nói với Trần Hùng Văn, một cựu Đảng viên cao cấp đảng Cộng sản Việt Nam” ở miền Bắc; Và sau ngày 30/4/1975, mới vào Sài G̣n theo chỉ thị của đảng Cộng sản Hà Nội, th́ cũng như nói với củ khoai mà thôi.

 

 

5- Trần Hùng Văn đă vu khống, chụp mũ chúng tôi về vụ án ông Trần Văn Bá:

 

Trần Hùng Văn đă tuyên truyền, xuyên tạc là “năm 1979, TĐS và LT đă được VGCS cho sang Pháp, để xâm nhập vào tổ chức của ông Trần Văn Bá, để gián tiếp giết chết ông Trần Văn Bá”.

 

Về vụ án ông Trần Văn Bá, th́ năm 1979 Trần Đăng Sơn c̣n ở trong nhà biệt giam 2.79, tức nhà biệt giam Đồng Mộ, thuộc “cải tạo” Tiên Lănh, như chính ông Lê Xuân Nhuận đă gặp và đă viết.

 

Sau khi ra khỏi nhà biệt giam Đồng Mộ, TĐS đă ở trong Biệt giam “Nhà Trắng” (v́ nhà sơn toàn màu trắng), rồi TĐS về Trại 1 (trại chính”. Tại trại 1, TĐS đă ở Nhà 8, cùng với nhiều vị tù mà tôi vẫn c̣n nhớ tên, với Tr/ tá Nguyễn Văn Chước làm Nhà trưởng).

 

 Phần tôi cũng vậy, năm 1979, tôi vẫn c̣n ở trong nhà tù này, mà quư vị Cựu Tù Nhân Chính Trị Quảng Nam – Đà Nẵng đă biết.

 

 

6- Chuyện sống chung giữa tôi và Trần Đăng Sơn:

 

Tôi và TĐS đều được ra tù vào cuối tháng 10 năm 1985. Đầu năm 1986, tôi gặp TĐS lần thứ hai, kể cả lần thứ nhất tại  bệnh xá của nhà tù “cải tạo. Thời gian này, TĐS đang ăn ở nhờ trong nhà của một người em kết nghĩa từ trước 30/4/1975. Thấy hoàn cảnh của TĐS quá bi đát, tôi động ḷng thương và đă đưa TĐS về nhà của Mẹ tôi. Ban đầu Mẹ tôi không nói ǵ, nhưng sau một thời gian ngắn, v́ thấy TĐS không hề chịu làm một công việc ǵ cả. Đó cũng là lư do Mẹ tôi nói với tôi một cách quyết liệt không cho tôi sống chung với TĐS rằng:
“Nếu con muốn sống với thằng nào, th́ ít ra nó cũng có cái nhà rách, cũng giúp cho con một chén cơm, đàng này chính bản thân của nó, nó cũng không tự lo được, phải sống bám vào mẹ con của ḿnh, th́ tương lai của con sẽ ra sao?”

 

Sau đó, Mẹ tôi đă đuổi tôi ra khỏi nhà, nhưng TĐS lại nói với tôi: “Bây giờ không biết đi đâu!” Tôi lại động ḷng thương xót, nên tôi đă lấy chiếc xe đạp của Mẹ tôi cùng với vốn liếng gồm một sợi dây chuyền vàng, nhẫn vàng, đồng hồ do Mẹ tôi cho, rồi bỏ nhà ra Đà Nẵng, thuê nhà tạm trú, rồi mua cây, gỗ cất lên một căn nhà nhỏ để ở, bắt đầu từ làm nghề may, mua bán áo quần, sau đó, tôi mua bán thuốc Tây.

 

Tôi trở lại Đà Nẵng và Trà Kiệu lần này, tôi đă đến thăm Linh mục Lê Như Hảo, là Nghĩa Huynh của tôi, v́ tôi đă được Thân Phụ và Thân Mẫu của Minh mục Lê Như Hảo là Cụ Ông Lê Như Hà và Cụ Bà Trần Thị Thanh Thu nhận làm Nghĩa Tử, để nhân dịp này, tôi xin ư kiến về trường hợp Mẹ tôi không cho phép tôi sống chung với TĐS, th́ được Cha Lê Như Hảo bảo rằng:

 

“Cha thấy, nếu chỉ v́ một lư do duy nhất, là TĐS nghèo, th́ chưa đủ để mẹ của con làm như thế”.

 

 Và tôi cũng thấy TĐS nghèo, không là trở ngại, nhưng không thể kết hôn, khi không có sự đồng ư của Mẹ tôi, nên tôi đă SỐNG CHUNG với Trần Đăng Sơn, KHÔNG CHỊU PHÉP HÔN PHỐI – KHÔNG CÓ KẾT HÔN.

 

Chuyện sống chung giữa tôi và TĐS, Bác sĩ Phùng Văn Hạnh đă có viết qua, trong Hồi Kư của Ông.

 

 

7- Tôi đă rời Việt Nam như thế nào:

 

Tháng Chín năm 1986, tôi sinh đứa con gái lớn tại Đà Nẵng. Đến năm 1987, tôi được bà Nguyễn Thị Bé, là chủ một chiếc thuyền đánh cá (loại nhỏ), ngỏ ư muốn đưa cả gia đ́nh đi vượt biển, nhưng gia đ́nh này không biết làm cách nào để ra đi, và v́ tin tưởng vào tôi, nên bà đă giao tôi cho công việc tổ chức cho chuyến vượt biển.

 

Tưởng cũng nên nói cho rơ, trước đó, người con trai của bà Bé, là tài công của chiếc thuyển đă nhiều lần đến nhà của Trung úy Cảnh sát Chung Phước Thành, là người mới ra khỏi nhà tù “cải tạo” của Việt cộng,  để “rủ” đi vượt biển; nhưng ông Chung Phước Thành không chấp nhận. V́ thế, bà Bé và người con trai đă phải nói với tôi, nhờ tôi tới nhà của ông Chung Phước Thành để nói chuyện vượt biển. Tôi đống ư.

 

Một điều mà mẹ con bà Bé, không thể ngờ, là ngay lần đầu tiên, khi con trai bà Bé đưa tôi đến nhà của Trung úy Chung Phước Thành, th́ đă được ông Chung Phước Thành đă nói với tôi như sau:

“Chính chị nói, th́ tôi mới tin, v́ nói thiệt tôi rất sợ bị lừa gạt, bị mất vàng, mà có khi không những phải chỉ mất vàng, mà c̣n phải ở tù thêm lần nữa”.

 

 Sau đó, ông bà Chung Phước Thành đồng ư góp vàng, và cùng đi với chúng tôi, và c̣n mời tôi cùng ăn một bữa cơm trưa thân mật, để nhớ lại những ngày ở tù “cải tạo” của chế độ Cộng sản.

 

Cũng xin nói thêm, ngoài tôi, không một ai trên chuyến vượt biển này, có thể nói chuyện với ông Chung Phước Thành tin tưởng được. Mà không có ông bà Chung Phước Thành góp vàng, th́ chúng tôi không thể ra đi, bởi chúng tôi không đủ vàng để tổ chức cho chuyến vượt biển. Về phần bà chủ chiếc thuyền đánh cá, ngoài chiếc thuyền nhỏ, bà rất nghèo, bà chỉ có một chiếc sạp bán ít món hàng vặt ngoài chợ, nhưng không có nhà ở, nên năm mẹ con của bà phải đi ngủ nhờ khắp xóm, có đêm ngủ nhờ trong nhà của tôi, nên khi mẹ con bà nói tới chuyện vượt biển, th́ ông Chung Phước Thành không tin. C̣n TĐS,  th́ càng tệ hơn, v́ ai cũng viết phải sống nhờ vào tôi, th́ làm sao dám tới nhà của ông Chung Phước Thành để nói chuyện góp vàng vượt biển.

 

Trở lại với chuyến vượt biển. Nhân ngày “Tết Đoan Ngọ”,  Mồng 5 tháng 5/1987, chúng tôi gồm có 18 (mười tám) người, trong đó, có gia đ́nh bà chủ thuyền, gia đ́nh của ông Chung Phước Thành và người bạn của ông, là ông Nguyễn Văn B́nh cũng là Tr/úy Cảnh sát mới ra tù “cải tạo” đă cùng nhau đóng góp vàng lại, để lo chu toàn mọi việc, và chúng tôi đă rời Việt Nam trên chiếc thuyền mang số 2324, vào lúc 11 giờ đêm, để vượt biển t́m tự do. Sau 21 ngày thuyền chết máy, trôi vô định trên đại dương, th́ được tầu của cảnh sát Ma-Cao cứu vớt và kéo đến Hong Kong. Chúng tôi 18 người đă nhập trại CHIMAWAN CLOSED CENTE, Hong Kong vào ngày 29 tháng Sáu năm 1987.

 

 

8- Trần Đăng Sơn và tôi đă THUẬN T̀NH chia tay:

 

Xin trở lại câu chuyện giữa tôi vàTĐS. Trong suốt thời gian SỐNG CHUNG, riêng tôi đă hết sức cố gắng để có thể ḥa hợp với nhau, hầu mong cho cuộc sống chung được lâu dài. Nhưng, tiếc rằng, mọi cố gắng của tôi đều không có kết quả. V́ thế, chúng tôi THUẬN T̀NH CHIA TAY. Và cho đến hôm nay, mặc dù, tôi không gặp lại TĐS, nhưng tôi biết một cách chắc chắn là hiện giờ, TĐS vẫn b́nh thường, chứ không có cái chuyện “TĐS lớn hơn Lệ Tuyền tới 30 (ba mươi) tuổi, (có nghĩa là nay đă gần một trăm tuổi) và cũng không “bị liệt” như Trần Hùng Văn đă bịa đặt ra, với mục đích bôi nhọ tôi, là “v́ bị liệt nên HGTLT mới đi t́m người khác”.

 

 

9- Những liên quan với Việt Nam Quốc Dân Đảng:

 

Trở lại với những chuyện có liên quan tới VNQDĐ, sau khi đến tỵ nạn Cộng sản tại Pháp, tôi đă nhận được rất nhiều những lá thư của nhiều vị, trong số đó, có hai vị trước ngày 30/4/1975, từng là Phó chủ tịch Trung ương VNQDĐ, do cụ Vũ Hồng Khanh lănh đạo. Cũng có nhiều vị từ Úc Châu, Âu Châu đă gặp mặt, hoặc đến nhà thăm. Trong số ấy, có cụ Nguyễn Văn B́nh ở Đức quốc, là thân phụ của của chị Ngọc Minh, tức chị Hồng Hạnh. Cụ Nguyễn Văn B́nh là đảng viên VNQDĐ thuộc “Xứ bộ miền Bắc” do Luật sư Lê Ngọc Chấn lănh đạo (L/s Lê Ngọc Chấn là phu quân của Nữ sĩ Vân Nương đang tỵ nạn Cộng sản tại Pháp).Tôi vẫn c̣n giữ tất cả những ǵ do cụ Nguyễn Văn B́nh đă gửi cho tôi, theo đề nghị của ông Hoàng Công Chữ…

 

(c̣n tiếp)

 

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

------------------------------------------------------

 

Phụ chú: Kính mời quư độc giả theo dơi bài viết của Trần Hùng Văn, tức Việt Thường bịa đặt về Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và những người thân của Ông dưới đây.

 

 

Chuyện thâm cung dưới triều đại Hồ chí Minh: Chuyện 30 năm về trước

-Việt Thường -  

Chuyện thâm cung dưới triều đại Hồ Chí Minh, của tác giả Việt Thường; từ trang 41 đến trang 52. Nhà xuất bảnTân Văn (Sài G̣n nhỏ) do Giám đốc Hoàng Dược Thảo phát hành năm 2008

 

GIẤC NAM KHA KHÉO BẤT B̀NH…

  Sau khi các nhóm cộng sản ở ba miền Bắc, Trung và Nam của Việt Nam hợp nhất được vài tháng th́ ông Hồ chí Minh lấy cớ theo lệnh của đệ tam quốc tế bắt đổi tên đảng thành "đảng cộng sản Đông Dương". Có điều đáng lưu ư là trong ban chấp hành của đảng do Trần Phú làm tổng bí thư đầu tiên, không hề có mặt một người nào là Lào hay Cam-bốt. Như thế có nghĩa là cái đảng cộng sản Đông dương do Hồ chí Minh sáng lập có nhiệm vụ nhuộm đỏ cả Lào lẫn Cam-bốt mà chẳng cần có ư kiến dù chỉ là một người của nước Lào hoặc Cam-bốt.

  Thực dân Pháp đă xâm lăng ba nước Việt Nam, Lào và Cam-bốt, xóa sổ ba nước có truyền thống văn hóa và lịch sử c̣n lâu đời hơn của nước Pháp trên bản đồ thế giới; đổi thành Đông Dương thuộc Pháp, chia thành năm xứ là Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Lào và Miên. Tất cả đều dưới quyền cai trị của một viên toàn quyền Đông Dương với các chức sắc kế cận là thống sứ và công sứ ngưới Pháp, song song là hệ thống vua quan người bản xứ.

   Chẳng phải suy diễn, mà chính từ cái tên đảng cộng sản Đông Dương với toàn bộ ban chấp hành là người Việt Nam cũng nói lên tham vọng của người sáng lập ra nó là Hồ chí Minh - có tên Nga là Line - muốn sau khi lật đổ chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương, th́, cái "ngôi" toàn quyền sẽ là chỗ của Hồ chí Minh, các thống sứ và công sứ sẽ là các ủy viên ban chấp hành trung ương đảng cộng sản Đông Dương. Đương nhiên sẽ phải có các chức sắc bù nh́n song hành là người bản xứ. Và, cái "Liên bang Đông Dương đỏ" này có mẫu quốc là Nga-xô, v́ kẻ đứng đầu nó là Line (tức Hồ chí Minh), một người Nga gốc Việt, mọi mục tiêu, mọi hành động đều v́ quyền lợi của nước Nga-xô.
   Không chỉ là người hoạch định đường lối, Hồ chí Minh c̣n đích thân bôn ba, lặn lội khắp vùng biên giới của Việt Nam cũng như Lào và Cam-bốt để chọn người, tổ chức và đào tạo các nhân sự trung kiên cho bộ máy cai trị của Liên Bang Đông Dương đỏ sau này.

  Kể từ ngày đảng Cộng sản Đông Dương được khai sinh (1930) cho đến ngày thở hắt ra, nằm đấy cho các chuyên gia Nga-xô moi óc, moi hết ruột gan, ướp xác (9-1969), gần cả bốn chục năm trời, Line (tức Hồ chí Minh) chỉ thực hiện được không trọn vẹn một phần năm tham vọng của ḿnh: nằm tại phủ toàn quyền Đông Dương chỉ để cai trị "xứ Bắc Kỳ" và thêm vài tỉnh của "xứ Trung Kỳ".

  Trước năm 1945, Line (tức Hồ chí Minh) đă tự bấm số tử vi cho ḿnh và đoán đúng là thành công vào lúc 55 tuổi (tức 1945) (xem "Những năm tháng không thể nào quên" của Vơ nguyên Giáp). Vào giữa những năm của thập niên 1960, Line (tức Hồ chí Minh) lại xoay qua nghề của Tả Ao (thầy địa lư). Ông thường mượn cớ đi "kinh lư" khắp nơi để t́m đất thiêng. Cái mảnh đất lư tưởng đó của ông là vùng Ba V́ (xưa thuộc tỉnh Sơn Tây, nay nhập thành một huyện của Hà-nội). Ông đă lén chôn tất cả những cái răng bị rụng của ông ở đó, hi vọng nó sẽ bột phát cho ông được làm "Hoàng đế Đông Dương" dù chỉ một ngày... trước khi... " đi thăm Các-Mác và Lê-nin".

  Bàn tay Line (Hồ chí Minh) đă vấy đỏ máu người mà có dùng hết nước biển Đông cũng không rửa sạch được. Không chỉ giết "kẻ thù", tay ông c̣n vấy máu của các đồng chí của ông, của dân tộc đồng bào với ông, của những người mà ông chịu ơn cưu mang khi hoạn nạn (như bà Nguyễn thị Năm, chủ đồn điền Đồng Bẩm, Thái Nguyên; như kỹ sư nông học Đào đ́nh Quang, chủ đồn điền Đào Giă, Phú Thọ; như chánh tổng Vạn Phúc, Hà Đông v.v...). Ấy vậy mà Line (tức HCM) sợ chết, ông không dám nói đến chữ "chết", cái tiến triển tất yếu của đời người mà chỉ nói là đi "thăm"... nghĩa là đi vắng vài buổi, hoặc vài tháng, hoặc vài năm... để trở về sẽ thấy "mấy cái răng" của ông nhờ táng được vào đất thiêng đă "bột phát" cho ông thành "hoàng đế" hoặc "chủ tịch vĩ đại" của toàn khối Đông Dương. Buồn thay, tất cả vẫn chỉ là giấc mơ. Giờ đây, Line (tức HCM) nhắm mắt nằm trong lăng, ch́nh ́nh ở giữa Hà-nội, ông không thể thấy được cái mộng "Liên Bang Đông Dương" của ông đang là một hiện thực thảm hại. Phải chăng cái ngày đi kinh lư vùng Ba V́, khi lén chôn mấy cái răng sâu của ḿnh, Hồ bấm theo giờ đổi mới của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa, có sai với giờ thời cụ Tả Ao nên nó không linh nghiệm, hoặc giả v́ những chiếc răng ấy ăn quá nhiều thai nhi ngâm mật ong gốc Hà Giang nên nó phát ngược lại?

 Kế hoạch cấy người của Line (tức HCM) rất tinh vi. Thử lược lại những nét lớn th́ thấy :

 ĐỐI VỚI LÀO

 Nước Lào cộng sản có hai nhân vật quan trọng nhất, đó là Tổng bí thư Lào cộng, Cay-Xon Phôm-Vi-Hản và hoàng thân Xu-Va-Na Phu-Vông, chủ tịch nước, ủy viên bộ chính trị Lào cộng. Chẳng ai có thể ngờ rằng ông Cay-Xon Phôm-Vi-Hản chính là một người Việt Nam, quê ở Tự Sơn (Bắc Ninh). Tên thật là Xông, làm cai lục lộ, được giác ngộ và gia nhập đảng cộng sản Đông Dương. Cai Xông sau vào làm việc ở Nha Trang và đi Lào. Chính ở đây, Cai Xông đă gặp kỹ sư công chính Xu-Va-Na Phu-Vông, và theo lệnh của Line (tức HCM) đă móc nối và kết nạp ông hoàng Xu-Va-Na Phu-Vông vào đảng công sản. Để nắm chặt được ông hoàng người Lào này, người của ông Line (tức HCM) không chỉ kích động cái cảnh con vợ cả, nàng hầu của ông hoàng Xu-Va-Na Phu-Vông và ông hoàng Xu-va-na Phu-ma; bằng cách vạch cho ông hoàng Xu-va-na Phu-vông con đường duy nhất để chiếm quyền của ông Phu-Ma là phải đi theo cộng sản, mà c̣n cột ông Xu-Va-Na Phu-vông vào một cô gái Việt Nam, gốc Nha Trang, sau trở thành vợ của ông ta.

 Trong những năm chiến tranh, người của Line (tức HCM), tất nhiên là người Việt Nam chính hiệu, đă sang Lào điều hành toàn bộ guồng máy công an, quân đội, thương nghiệp, giao thông vận tải và bưu điện truyền thanh.

 Cai Xông lấy vợ Lào, đổi tên thành Cay-Xon Phôm-Vi-Hản, nhưng trước 1975, vẫn ở tại ṭa vi-la ở phố Nguyễn gia Thiều (Hà Nội) kế bên cố vấn tối cao của ông ta là thiếu tướng Nguyễn trọng Vĩnh, ủy viên dự khuyết trung ương cộng đảng kiêm ủy viên quân ủy trung ương.

  Hiệp định Genève về Lào, Hoàng văn Hoan, ủy viên bộ chính trị cộng đảng được Line (tức HCM) giao cho làm cố vấn tối cao của đoàn Việt Nam, nhưng thật ra cũng đồng thời là cố vấn tối cao cho đoàn Lào cộng.

  Để ve vuốt ông hoàng Phu-Ma, Line (tức HCM) cho mở tại Hà-nội hai ṭa đại sứ, một của Vương Quốc Lào, một của Lào Cộng. Ṭa đại sứ Vương Quốc Lào là một biệt thự nguy nga thuộc loại hiếm của Hà-nội, tọa lạc ở đại lộ Quang Trung. Cơ quan an ninh của Hà-nội đă cài được hai cô gái Việt Nam lấy chồng là nhân viên của sứ quán Vương Quốc Lào. Cô H., gốc Việt kiều ở Thái Lan về Bắc Việt Nam, sau có vẻ lơ là với nhiệm vụ, theo chồng đi nước khác; chỉ c̣n cô Lê Thị N. vẫn c̣n sáng giá, nhờ đó các em trai dù mắc các tội chứa điếm, ăn cắp, buôn lậu Bắc-Nam, vẫn được vô tội. Chẳng thế, một người c̣n được cho vượt biên sang Úc, c̣n đứa em trai út được làm trong ngành điện ảnh có nhiều liên hệ với ṭa lănh sự Pháp ở Sài-g̣n hiện nay và cũng là một trùm "mánh mung, buôn lậu", hay gần gũi cả giới văn nghệ sỹ lẫn dân "phe phẩy", có tên là Lê đ́nh Th., một mú của Dương Thông.

ĐỐI VỚI CAM BỐT

   Lợi dụng bệnh chính trị thất thường của ông hoàng Xi-Ha-Núc của Cam-Bốt, Line (tức HCM) trong thời kỳ cho quân vào xâm lăng miền Nam, đă tận dụng vùng đất Mỏ Vẹt của Cam-Bốt, làm khu an toàn cho nơi tập kết quân đội và vũ khí mỗi khi khó khăn, c̣n dùng nơi đó làm căn cứ tập trung và đào tạo sơ khởi cho những người dân Cam-Bốt, tạo thành đạo quân thứ năm cho chính quyền của ông Line ở Cam-Bốt. Hầu hết các nhân vật chóp bu của cộng sản của Cam-Bốt đều được guồng máy của Line lựa chọn và đào tạo bằng cách này hay cách khác. Hênh Som-Rin và Hun-Sen đều được ăn học tại Hà-nội. Và, ngay Pôn-Pốt cũng chính là do tay chân của ông Line tuyển chọn. Tên thật Pôn-Pốt là Hai Nghĩa, vốn là người Việt gốc Miên ở Sa-Đéc. Nghĩ rằng cái nguồn gốc đó có thể cột chặt được Pôn-Pốt với chính quyền của Line ở Hà-nội, nào hay ông Mao Trạch Đông lại hiểm hơn, múa lại bài vơ của ông Line với hoàng thân Xu-Va-Na Phu-Vông, cài cho Pôn-Pốt (tức Hai Nghĩa) lấy cô vợ Tàu. Trong canh bạc này Line bị Mao phổng tay trên mất ù. Và, hậu quả như chúng ta đă biết.
 Ve văn hoàng thân Xi-Ha-Núc của Cam-Bốt cũng như ông hoàng Phu-Ma của Lào bằng cách đẻ ra cái hội nghị "Ba nước Đông Dương" với tấm ảnh màu chụp cảnh Phạm văn Đồng, Nguyễn hữu Thọ (tượng trưng cho Nam Việt Nam), Xi-Ha-Núc, Xu-Va-Na Phu-Ma và Xu-Va-Na Phu-Vông trên trang b́a báo Ảnh Việt Nam, Line hỉ hả ngồi ở phủ toàn quyền Đông Dương ở Hà-nội tưởng như nắm chắc cái ngai "chủ tịch vĩ đại" của Liên Bang Đông Dương đỏ. Nào ngờ... Mà, nào ngờ thật, bởi Line đă mau chóng quên canh bạc ở ngay chính miền Nam Việt Nam ông đă tưởng như ăn chắc trong chuyến đi đêm với anh em nhà ông Ngô Đ́nh Diệm, tổng thống nền đệ nhất cộng ḥa của miền Nam Việt Nam. Chỉ có người dân đen ở Hà-nội là tỉnh táo khi mượn kiểu thơ Bút Tre để nói rằng :

"Hoan hô quốc trưởng Xi-Ha
Núc na. núc ních sang Ta sang Tàu
Sang Ta rồi lại sang Tàu
Núc na núc ních theo Tàu bỏ Ta."

và :

"Hai Nghĩa cũng như con nhện
Lấy vợ Tàu quyến quyện bỏ đi
Ṭ ṿ Hồ ngồi khóc tỷ ty
Pôn-Pốt ơi! Pôn-Pốt hỡi! Mày đi đằng nào?"

CANH  BẠC  VỚI  HỌ  NGÔ

    Những trí thức ở Bắc Việt Nam (trước 1975) dám làm cái việc như cụ Tả Ao ngày xưa là mở một mắt nh́n vào sự thật đề pḥng có mù th́ mù một mắt, đă thấy từ lâu mối quan hệ của cái thế "môi sứt và răng hô" giữa Bắc Việt Nam và Trung Cộng. Chỉ có giới chức cầm quyền cộng sản Việt Nam, sau sự cố 1979 "hàm răng vẩu Trung Cộng cắn chảy máu cái môi sứt của Thị Nở Việt Cộng" th́ Nguyễn duy Trinh, ủy viên bộ chính trị cộng đảng, phụ trách phó thủ tướng kiêm bộ trưởng ngoại giao mới chua chát nói đến bị anh hai Trung Cộng ức hiếp trong một phần tư thế kỷ của mối t́nh "vừa là đồng chí vừa là anh em". Cuốn sách của Nguyễn duy Trinh tố cáo Trung Cộng đă đạp "thắng gấp" hăm đà "thừa thắng xông lên" của quân đội tướng Giáp nhằm "giải phóng" hoàn toàn Việt Nam khỏi tay thực dân Pháp chuyển giao cho thực dân đỏ mà Line là người đại diện. Cho nên mới đẻ ra cái giải pháp chính trị trong hiệp định Genève năm 1954 về Việt Nam. Thế là thắng trận trên chiến trường nhưng lại thua trận trên b́nh diện chính trị. Bởi, năm 1945 - lúc 55 tuổi – Line được là chủ tịch của cả nước Việt Nam - từ địa đầu Hà-giang cho đến mũi Cà-mâu - thế mà sau 9 năm lừa dân tiêu thổ, trường kỳ kháng chiến, Line chỉ c̣n là chủ tịch của Việt Nam, cái phần "khúc đầu những xương cùng xẩu" và tư chút "khúc giữa những máu cùng me". C̣n khúc đuôi miền Nam, chỗ ngon lành nhất th́ đành phải nghiến răng "tha hồ mà đuổi".

   Cùng thời điểm xuất phát từ 1954, khi Line mang theo bầu đoàn nhếch nhác từ Việt Bắc về Hà-nội th́ anh em ông Ngô Đ́nh Diệm về Sài-g̣n. Qui định của hiệp định Genève 1954 là sau 2 năm sẽ tổng tuyển cử thống nhất ở cả nước Việt Nam... để người dân Việt Nam được tự do lựa chọn chế độ chính trị và người đại diện của ḿnh. Nhưng, năm tháng cứ đi qua, cho đến tận cuối năm 1992 này, gần 40 năm sau cái ngày qui định trong hiệp định Genève 1954 về Việt Nam ấy, hai chữ tự do vẫn là cái ǵ đó xa vời vợi với người dân Việt Nam. V́ sao vậy? Bởi v́, từ khi được quyền quản lư tạm thời một nửa nước Việt Nam từ vĩ tuyến 17 ra phía Bắc, Line và tay chân thân tín đă "đào tận gốc, trốc tận rễ" tất cả mọi giai tầng của xă hội Bắc Việt Nam, để "trồng những con người mới xă hội chủ nghĩa" chỉ biết phá hoại mà không biết xây dựng; chỉ biết căm thù mà không biết yêu thương; chỉ biết giết mà không biết nuôi dưỡng; chỉ biết nhất cử nhất động là nhằm bảo vệ "Liên xô, thành tŕ cách mạng thế giới" chứ không phải là bảo vệ đất đai và dân tộc Việt Nam với trên bốn ngàn năm văn hiến. Cho nên cả miền Bắc Việt Nam trở thành một nhà tù lớn, một trại lính vĩ đại. Sợ hăi, đói khổ, phát triển thú tính là những nét đặc trưng của xă hội miền Bắc Việt Nam lúc ấy. Trong lúc đó, cái khoảng thời gian của 1955-1959 lại là giai đoạn thịnh trị của miền Nam Việt Nam dưới nền đệ nhất cộng ḥa mà tổng thống là ông Ngô Đ́nh Diệm. V́ thế, Line không muốn và cũng không thể thực hiện được điều khoản tổng tuyển cử tự do trong cả nước. Với sự mách nước của phó vương Lavritchev, đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Nga-xô ở Hà-nội; Line cho khai tử cái gọi là Mặt Trận Liên Việt, thay bằng Mặt Trận Tổ Quốc với một cương lĩnh mới mà nội dung là các điều khoản áp đặt cho miền Nam Việt Nam bị nhập vào với miền Bắc Việt Nam, dưới quyền cai trị của Line, nghĩa là đưa đến cái thế không thể có tổng tuyển cử.

 CHỈ MỘT BƯỚC TỪ CÁI VĨ ĐẠI ĐẾN CÁI LỐ BỊCH


  Câu nói trên của Napoléon vào lúc tụt dốc cũng đúng với ông Ngô Đ́nh Diệm. Cho đến năm 1959, quả rằng ông Ngô Đ́nh Diệm đă thổi vào miền Nam Việt Nam một luồng sinh khí mới mà ngay kẻ thù của ông cũng không thể phủ nhận được. Miền Nam Việt Nam thay da đổi thịt. Các nguồn lợi kinh tế đă có phần của người Việt Nam, không c̣n là sự độc quyền của chú Hỏa với đồng bào của chú ta nữa. Nạn cát cứ giáo phái được dẹp yên. Đời sống của người dân miền Nam Việt Nam, dưới sự lănh đạo của ông Ngô Đ́nh Diệm đi theo chiều tích cực trên mọi b́nh diện, hoàn toàn ngược với xă hội miền Bắc Việt Nam do Line thao túng. Tiếc rằng cái thời vàng son của miền Nam không được bao lâu đă chết yểu v́ cơ chế độc tài, đảng trị, gia đ́nh trị của ông Ngô Đ́nh Diệm càng về sau càng phát triển mạnh trên cơ sở của sự thỏa măn và tính tự cao về thành tích sơ khởi đạt được.

   Trong khi đó, với cái dă tâm làm "chủ tịch vĩ đại" của cả Liên Bang Đông Dương, Line cho tập kết lực lượng thân cộng từ miền Nam ra miền Bắc như hiệp định Genève 1954 về Việt Nam qui định, nhưng vẫn để lại một lực lượng mạnh cả quân đội lẫn tổ chức đảng. Số lính chính qui và địa phương quân cùng du kích có tổng số hơn bốn trăm ngàn người. Giới lănh đạo của xứ ủy miền Nam chỉ có Lê Duẩn và Phạm Hùng ra Bắc, c̣n lại nguyên bộ xậu ban lănh đạo của cộng đảng gồm các ủy viên trung ương chính thức như Nguyễn văn Linh (Mười Cúc), Nguyễn văn Xô (Hai Xô), Phan văn Đáng (Hai Văn), cùng với Nguyễn đức Thuận (sau bị chính quyền của ông Diệm bắt được), Vơ chí Công, Cao đăng Chiếm, La văn Liếm, Trần nam Trung, Trần bạch Đằng đều rút vào bí mật. Và, ngay từ đầu những năm 1957 trở đi Line đă cho lệnh t́m đường vào Nam, đó là đường ṃn Hồ chí Minh sau này. Toán quân đội được lệnh thâm nhập miền Nam đầu tiên do thiếu tướng Bùi xuân Đăng chỉ huy. Con đường ṃn Hồ chí Minh được hoàn tất vào năm 1959 và Đồng sỹ Nguyên (tức Nguyễn văn Đổng) được cử trông coi việc "hiện đại" hóa con đường trục để xâm lăng miền Nam đó. Cơ cấu quân đội dưới trướng Đồng sỹ Nguyên lên tới gần 3 sư đoàn và được đặt tên là "Công trường 59" (tức quân đoàn).
  

Cái sáng suốt và nhiệt t́nh của nhà ái quốc Ngô Đ́nh Diệm theo thời gian mà bốc hơi, chỉ c̣n lại cái h́nh hài của quan "Tuần vũ Phan Thiết", vừa cố chấp của người "quá mộ đạo", vừa hợm hĩnh về gịng họ và thành tích, chỉ tin vào quan hệ máu thịt và địa phương cũng như cùng tôn giáo.

Cái sai lầm nữa là ông Ngô Đ́nh Diệm dựng ra đảng Cần-Lao Nhân-Vị có cái ǵ đó hao hao giống cơ chế tổ chức và xử dụng như của đảng cộng sản. Tổng Thống họ Ngô đă không lợi dụng thành tích đạt được để mở rộng dân chủ, thu hút nhân tài của đất nước v.v... mà lại khép lại như mô h́nh cộng sản nhưng lại không đủ qủy quyệt tàn nhẫn như cộng sản. Đáng ra phải đặt cho ḿnh làm cái nhiệm vụ lănh tụ của cả nước Việt Nam (như Line) th́ ông Diệm đă lược bớt đi chỉ giành lại cho ḿnh những cái rất "khiêm tốn" là lănh tụ của giáo dân, là một thứ "tù trưởng" của "bộ lạc Ngô, Trần".

Chính sách đối ngoại của ông Diệm có nhiều sai lầm khi làm mất t́nh ḥa hiếu với ông hoàng Xi-Ha-Núc, khiến Hà-nội lợi dụng để dùng mảnh đất Mỏ Vẹt của Cam-Bốt cũng như cảng Kôm-Pông-Xôm của Cam-Bốt để xâm lăng miền Nam. Cũng thế, ông không công nhận Hội nghị Băng-Đung, khiến bị cô lập đối với các nước không liên kết, mà lúc đó những tiếng nói của Nerhu và Nasser là khá quan trọng. Xung quanh ông Diệm có rất nhiều người giỏi, nhưng ông không dùng, thí dụ như ông Nguyễn Văn Thoại, người đă kư vào quyết nghị của hội nghị Băng-Đung, một hành động rất khôn ngoan và sáng suốt. Qua việc này, ông Line đă hiểu hết chỗ "yếu kém" của đối thủ và quyết định đánh canh bạc với họ Ngô. Một tổ công tác đặc biệt được thành lập ngay tại Hà-nội để làm công việc đó mà không cần qua bộ phận của Nguyễn văn Linh ở phía Nam.

LỰA NGƯỜI

  Sau khi dự hội nghị Băng-Đung về, Line mừng v́ chết hụt. Chiếc máy bay của Trung Cộng bị nổ tung, vài nhân viên ngoại giao Việt Cộng chết theo, trong đó không có... Line. Nhưng, điều ông mừng hơn là nghe tin ông Ngô Đ́nh Diệm không chấp nhận quyết nghị của hội nghị Băng-Đung mà đại diện của ông là ông Nguyễn văn Thoại đă kư. Hơn thế, ông Diệm c̣n cải tổ chính phủ và... gạt ông Nguyễn văn Thoại ra. Ngồi ở phủ toàn quyền ở Ba-Đ́nh, khi nghe Việt Phương, vụ trưởng vụ tổng hợp Phủ thủ tướng, cũng là thư kư riêng của Phạm văn Đồng, tŕnh tin này, Line vỗ đùi đen đét và ngửa mặt lên trời cười ba tiếng, hệt như Lưu Bang nghe tin Hạng Vơ đuổi Phạm Tăng không dùng nữa.

   Hồ sơ về gia đ́nh ông Ngô Đ́nh Diệm dày cộm trên bàn làm việc của ông. Biết tỷ mỷ từ việc ông Diệm "nghiện" món chim bồ câu nhồi yến, đến ông Ngô Đ́nh Nhu mỗi ngày "bắn khỉ" bao nhiêu phát (tức hút thuốc phiện) và bà Nhu (tức Trần Lệ Xuân) chọn đất ở đường Trần quốc Toản (nay là ủy ban quận 10, Sài-g̣n) xây "cung" cho Ngô Đ́nh Trác, có ư định quay lại chế độ quân chủ (chắc là bắt chước tướng Franco của Tây ban Nha).

 Line cũng để ư đến việc viên sỹ quan CIA Conéin, đă từng ở quân đội Pháp, có mặt tại Sài-g̣n. Sự bất măn của Phật Giáo được ông để ư đến từ lâu. Song song với việc đào tạo bộ đội đặc công (ở Sơn Tây), công an đặc biệt (ở Hà-Đông), cán bộ người thiểu số (ở Ḥa-B́nh), các sư, tiểu, ni cô (ở chùa Quán Sứ, Hà-Nội) và lấy cán bộ tập kết ở Nam ra cho học tập và quay lại Nam (địa điểm học tập ở Bắc-Thái), ông Line c̣n lo đào tạo "thế hệ tương lai" cho Liên Bang Đông Dương đỏ: đó là các thiếu niên, nhi đồng của miền Nam, của khu Năm, của núi rừng Tây Nguyên, của Lào, của Miên. Trường này đặt ở huyện Lương sơn (Ḥa B́nh). Bên cạnh ủy ban Thống Nhất do trung tướng Nguyễn văn Vịnh, ủy viên trung ương cộng đảng, làm chủ nhiệm, phía ban tổ chức trung ương c̣n có Lê phước Thọ đặc trách số cán bộ tập kết quay lại Nam (nay ông ta là ủy viên bộ chính trị, phụ trách tổ chức). Đấy là công việc hàng ngày của đảng và chính phủ ở Hà-nội. Giờ đây đă khác tư chút, đó là việc ông Ngô Đ́nh Diệm từ chỗ được tổng thống Eisenhower ra tận phi trường quân sự Andrews đón tiếp (1957) đến chỗ đôi bên đă có dấu hiệu ngúng nguẩy với nhau và quân đội do đại tá Nguyễn Chánh Thi cầm đầu làm đảo chánh ngày 11-11-1960. Tuy không thành công, nhưng rơ ràng đó là điểm báo hiệu chỗ dựa quân sự và chỗ dựa đồng minh đă "lung lay". Nay chỉ cần làm cho những chỗ dựa đó đổ hẳn là xong. Điểm lại nhân sự, ông Line thấy việc này phải giao cho Phạm Hùng, người có đủ tư cách tiếp xúc trực tiếp với anh em ông Ngô Đ́nh Diệm, có hiểu biết sâu sắc về miền Nam, v́ Phạm Hùng đă từng phụ trách công an của miền Nam, là ủy viên bộ chính trị kiêm phó thủ tướng thứ nhất của chính phủ (với 9 ông phó thủ tướng!). Nhưng c̣n người thứ hai là ai, người giúp việc trực tiếp cho Phạm Hùng mà cũng là người làm cái việc móc nối trong chuyến "đi đêm" này. Tất nhiên phải là người có khả năng đă đành mà c̣n phải tín cẩn được đến mức giả dụ là bị anh em ông Diệm, Nhu trở mặt bắt th́... sẵn sàng chết mà không phản bội hoặc đi hai hàng. Điểm lại tất cả các bộ mặt lănh đạo ngành công an và Line cầm bút nắn nót viết ba tiếng: Nguyễn công Tài.

 SAO LẠI CHỌN NGUYỄN CÔNG TÀI

   Line biết rằng anh em ông Diệm, Nhu tuy làm cuộc phế truất Bảo Đại, nghĩa là "phản thực" rồi lại "phản phong", nhưng từ máu thịt của gia đ́nh họ Ngô là quan lại, cho nên anh em ông ta rất khinh người. V́ thế, cái kẻ làm việc xúc tiếp đầu tiên - tất nhiên phải cộng sản đỏ quạch - nhưng phải có tŕnh độ (nghĩa là nói tiếng Pháp trôi chảy) lại phải có cái gốc gác gia đ́nh đáng v́ nể trong xă hội phong kiến cũ ở Việt Nam. Chính Nguyễn công Tài là người hội đủ bấy nhiêu yếu tố.

   Nguyễn công Tài đă học đến bậc tú tài thời Pháp, là con trưởng của nhà văn Nguyễn công Hoan, là cháu ruột của Lê văn Lương, thường trực ban bí thư trung ương đảng cộng, phó ban thường trực ban tổ chức trung ương, gịng dơi quan lại gốc Nam Định. Đă thế, Nguyễn công Tài c̣n là con rể của bác sỹ Nguyễn viêm Hải, có quốc tịch Pháp. Vợ Nguyễn công Tài là bà Nguyễn thị Nghĩa, cựu sinh trường nữ học Đồng Khánh lúc ấy đang là hiệu trưởng trường Mầm Non (trường dành cho con nhỏ của các quan lại đỏ của trung ương và Hà-nội, chiếm trọn hai ṭa vi-la đồ sộ ở phố Hàng Bông Nhuộm). Hai em gái bà Nghĩa đều đỗ tú tài Pháp, là học sinh của trường Albert Sarraut, lúc ấy một ra bác sỹ y khoa, c̣n một là kỹ sư mỏ. Nguyễn công Tài đang đeo lon đại tá an ninh bên bộ công an, giữ chức thứ trưởng bộ công an kiêm ủy viên đảng đoàn cộng sản của bộ công an. Cả chức vụ, nghề nghiệp cho đến lư lịch bản thân và lư lịch bên vợ của Nguyễn công Tài đều là mẫu lư tưởng cho cuộc tiếp xúc với anh em ông Ngô Đ́nh Diệm.

   Và, sau đó người nào có óc quan sát không c̣n thấy hàng ngày ít ra là một lần, trên đường Hàng Bông Nhuộm quẹo ra phố Dă Tượng (Hà-nội) không c̣n bóng dáng của một người đàn ông tầm thước, ăn mặc xuề x̣a, đeo cặp kính dầy cộm hoặc đi bộ, hoặc đi xe đạp qua nữa. Người đó là Nguyễn công Tài. Trên phố Bông Nhuộm có nhà riêng của nhà văn Nguyễn Công Hoan, tác giả truyện "Cô giáo Minh" mà cũng là tác giả tiểu thuyết bị Hà-nội cấm: "Đống rác cũ", và ở đó cũng là nơi làm việc của vợ Nguyễn công Tài.

NGUYỄN CÔNG TÀI RA TAY

   Có chú ruột là phó ban tổ chức trung ương phụ trách thường trực ban bí thư trung ương đỡ đầu, lại được đích thân ông Line lựa chọn, lại làm việc dưới quyền trực tiếp của Phạm Hùng, nhân vật số 4 trong bộ chính trị, nên Nguyễn công Tài hiểu rằng đây là thời cơ "ngàn năm một thuở" để thăng quan nhảy vọt nếu hoàn thành nhiệm vụ đi đêm này. Nguyễn công Tài đă dành nhiều thời gian để nghiên cứu hàng núi hồ sơ về gia đ́nh nhà ông Ngô Đ́nh Diệm và những người kế cận, cũng như những người đối lập. Tài liệu cập nhật từ nhiều nguồn, nhưng phần đóng góp của nội gián Phạm ngọc Thảo là rất quan trọng. Làm sao phải chọn người tiếp xúc thật đúng mà lại bảo toàn bí mật. Cuối cùng, sau nhiều ngày đêm suy nghĩ, Nguyễn công Tài đă lựa nhân vật Mă Tuyên, người Tàu ở Chợ-lớn đang làm công việc kinh tài cho gia đ́nh ông Ngô Đ́nh Diệm.

    Thông qua dịch vụ buôn bán táo bạo, Nguyễn công Tài đă tiếp xúc trực tiếp được với Mă Tuyên. Và, cái thời điểm để đưa ư kiến cho Mă Tuyên "gợi ư" với anh em ông Ngô Đ́nh Diệm là sau tháng 2-1962, sau cái ngày mà hai trung uư của quân đội ông Diệm là Phạm Phú Quốc và Nguyễn văn Cử ném bom dinh Độc Lập làm đảo chính. Sự việc của hai trung uư Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử tuy không thành công nhưng nó lại là lư do hợp thời để Nguyễn Công Tài làm cuộc tiếp xúc với anh em ông Diệm, Nhu thông qua thương gia người Tàu ở Chợ-lớn là Mă Tuyên. Tín hiệu có thuận lợi. Quả nhiên ông Nhu nhận sự tiếp xúc một cách thận trọng và kéo dài thời gian để mặc cả cho cái giá đi đêm. Nguyễn công Tài có nhận xét là anh em ông Diệm, Nhu tuy học ở Pháp và Mỹ về nhưng óc bài ngoại cực đoan như "Tự Đức" và cũng có mộng Việt Nam sẽ gồm cả Miên và Lào và phải là cường quốc ở châu Á.

    Sự việc tin đi mối lại chỉ dừng ở đó. Phải cho đến lúc được phép của ông Line, Nguyễn công Tài cung cấp cho ông Nhu một số tài liệu chứng minh người Mỹ muốn lưu lại ông Diệm c̣n vợ chồng ông Nhu phải đi lưu vong nước ngoài, cũng như họ trước sau cũng buộc ông Diệm phải từ bỏ chế độ độc tài, gia đ́nh trị, phải chia quyền lănh đạo cho các đảng phái cũng như phải có chính sách b́nh đẳng tôn giáo. Ông Nhu chấp nhận một cuộc gặp gỡ với phái viên đặc biệt của ông Line. Có thể đây chỉ là giải pháp pḥng ngừa mà cũng có thể ông Nhu muốn hiểu rơ hơn ư đồ của địch. Những điều này c̣n là bí ẩn đi theo ông Nhu xuống tuyền đài.    

    Phạm Hùng nhận những chỉ thị toàn quyền hành động từ ông Line tại phủ toàn quyền Đông Dương ở Ba-Đ́nh (Hà-nội) và cấp tốc đi Nam bằng cả ba thứ phương tiện: thủy, bộ và hàng không.

    Đầu tháng 2-1963, cuộc họp "bí mật" giữa ông Ngô Đ́nh Nhu và Phạm Hùng diễn ra tại một địa điểm kín đáo ở quận Tánh Linh, tỉnh B́nh Tuy. Trong cuộc họp này có cả Nguyễn công Tài cũng được dự. Khi chia tay, cả hai bên đều hỷ hả. Nội dung cuộc họp vẫn c̣n nằm trong bí mật cho đến nay. Anh em ông Diệm, Nhu đều đă chết. Line th́ nằm nhắm mắt ch́nh ́nh trong cái lăng ở Hà-nội; Phạm Hùng sau này giữ chức chủ tịch hội đồng bộ trưởng của nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, trong một cuộc họp về tài chính hết sức căng thẳng ở Sài-g̣n, khi về nhà khách của chính phủ nghỉ trưa đă... chết. Chỉ sau này, qua mặt báo Sài-g̣n Giải-phóng cộng với chuyện thâm cung lộ ra, người ta biết rằng buổi trưa hôm đó, Phạm Hùng đă cho gọi một nữ ca sỹ cải lương tên tuổi đến nghe hát... giải khuây. Chẳng biết có làm ǵ nữa không mà đột ngột... cưỡi ngựa (không phải rồng) xuống địa ngục. Dân Việt Nam quốc nội lại thắc mắc qua thơ kiểu Bút Tre, rằng :

"Nghe tin đồng chí Phạm Hùng
Chết ngă lăn đùng, chưa rơ nguyên nhân."

   Người duy nhất c̣n lại là Nguyễn công Tài, sau này "t́nh cờ" làm cái việc xét căn cước, cảnh sát của miền Nam đă bắt được Nguyễn công Tài. Người Mỹ đă cho giam Nguyễn Công Tài ở Bạch Đằng (Sài-g̣n), cho hưởng mọi tiện nghi vật chất rất cao và cũng được ngồi xe hơi (tất nhiên có bảo vệ) đi "tham quan" phố xá Sài-g̣n. Đến 1975, trước khi đứt phim miền Nam, Mỹ đă thả Nguyễn công Tài ra.

ĐỊNH  MỆNH

    Trước khi bước vào cuộc gặp mặt lần thứ hai giữa ông Ngô Đ́nh Nhu và Phạm Hùng th́ xảy ra sự biến của Phật Giáo. Trong lễ Phật Đản năm 1963 ở chùa Từ Đàm, thượng tọa Thích Trí Quang phê b́nh chính quyền ông Diệm kỳ thị Phật Giáo cho nên đài phát thanh Huế không phát thanh về ngày lễ Phật Đản như thường lệ. Phật tử vây đài phát thanh đ̣i giải thích. Cảnh sát Thừa Thiên đến bao vây, có mặt cả thiếu tá Đặng Sỹ, chỉ huy trưởng tiểu khu Thừa Thiên và trưởng ty cảnh sát Thừa Thiên. Trong lúc hỗn loạn, đặc công của cộng sản liệng lựu đạn làm chết 9 người và bị thương 13 người. Thế là cuộc tranh đấu của Phật Giáo bùng nổ. Có thể đây là đ̣n của cộng sản muốn thúc ép ông Ngô Đ́nh Nhu tái họp lần thứ hai với Phạm Hùng sớm hơn và đưa yêu sách "khiêm tốn hơn".

   Đầu tháng 11-1963, các tướng trong quân đội của ông Diệm làm đảo chánh thành công. Anh em ông Diệm, Nhu theo đường hầm trốn vào Chợ-lớn ở nhà Mă Tuyên. Phải chăng hai anh em ông Diệm, Nhu định chờ người của Phạm Hùng và Nguyễn công Tài đến đón ra bưng biền?

   Suốt những ngày vào Nam, nhất là sau khi Nguyễn công Tài bị tù, gia đ́nh của Nguyễn Công Tài có chút thay đổi. Bà hiệu trưởng trường Mầm Non, Nguyễn thị Nghĩa - vợ của Nguyễn công Tài - đă ngả vào ḷng của đại tá Hồng Hà, chánh văn pḥng kiêm vụ trưởng vụ tổng hợp của bộ công an. Có lẽ ghen hộ con trai nên nhà văn Nguyễn công Hoan là người đi đầu trong việc "trấn áp" Nhân Văn-Giai Phẩm, cho đến tận tác phẩm "Hỗn canh hỗn cư" c̣n ca ngợi cách mạng hết lời th́ đột ngột thay đổi trong tiểu thuyết "Đống rác cũ", vạch mặt những "cán bộ" cách mạng chỉ là lũ lừa đảo, lưu manh. V́ là của Nguyễn công Hoan nên nhà xuất bản Văn Học phải in. Khi phát hành được khá lâu, Tố Hữu mới để mắt tới và phát hiện "có vấn đề" và tập I của "Đống rác cũ" bị thu hồi, tập 2 bị đ́nh chỉ phát hành.

    Giữa năm 1975, Nguyễn công Tài về nhà ngồi "chơi xơi nước", bị t́nh nghi là có vấn đề trong thời gian bị giam ở Bạch Đằng (Sài-g̣n). Phải cho đến lúc Phạm Hùng lên nắm chức chủ tịch hội đồng bộ trưởng, Nguyễn Công Tài mới được đeo lon thiếu tướng công an, đổi tên thành Nguyễn Tài và giữ chức tổng cục trưởng tổng cục hải quan. Vợ là Nguyễn thị Nghĩa cũng vào ngành công an, đeo lon trung tá, phụ trách trưởng pḥng quản lư thiếu nhi phạm pháp thuộc Cục quản lư trại giam. C̣n "kẻ địch" của Nguyễn công Tài, đại tá Hồng Hà cũng lên lon thiếu tướng, giữ chức giám đốc Sở công an Tây Nguyên. Nguyễn công Tài chắc cũng tự an ủi qua bất hạnh của người khác v́ cấp dưới xưa kia của ông ta là thiếu tướng Quang Pḥng, cục phó cục phản gián, cũng bắt được quả tang vợ đang... ấy... với trung tá Vũ Quân, đệ tử ruột của Quang Pḥng, anh chàng này là con rể của nguyên chủ nhân nhà hàng Bodéga ở phố Tràng Tiền (Hà-nội), người đă được báo chí Hà-nội ca ngợi về thành tích "vồ gái điếm" vào ngủ với nhân viên các sứ quán phương Tây ở Hà-nội.

Việt Thường

 

 

 

Trang Chính     Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Phỏng Vấn     Văn Học Nghệ Thuật     Tham Khảo