Những ḍng nước mắt trong những cảnh ngộ tang thương của các gia đ́nh cựu tù “cải tạo”!

Bài 3

 

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

 

 

OAN  NGHIỆT!

 

 

Trước năm 1975, anh Đông là một vị giáo sư tại trường Trung học Trần Cao Vân, quận Tam Kỳ, Quảng Nam, vợ anh, chị Khuê cũng là một nhà giáo dạy tại trường nữ Trung học cùng quận, vợ chồng anh được xem là một đôi “trai tài gái sắc”, anh chị có hai con trai, có cuộc sống hạnh phúc.

 

Sau năm 1975, trong lúc thân phụ của anh một vị Giáo sư và là cựu bí thư quận bộ Việt Nam Quốc Dân Đảng, và bào huynh của anh là một sĩ quan cấp Đại úy chưa có vợ đă bị tập trung vào trại tù “cải tạo”; nhưng v́ lúc ấy, chưa có người thay thế, nên anh chị c̣n được dạy học một thời gian ngắn. Sau đó, anh Đông đă tham gia vào tổ chức phục quốc: Việt Nam Dân Tộc Cách Mạng Đảng, do Giáo sư Nguyễn Văn Bảy, tức Văn Nguyễn thành lập và lănh đạo sau ngày 30/4/1975. Giáo sư Nguyễn Văn Bảy dạy tại trường Trung học Kỹ Thuật Đà Nẵng; và ông c̣n là Phụ tá Hiệu trưởng trường Trung học Hưng Đạo-Liên Đoàn trưởng Thanh niên Hưng Đạo đoàn Cao Đài Miền Trung, và là người tín cẩn của Giáo sĩ Trần Thanh Thuyền: Chánh Phối sư kiêm Đặc trách ngoại giao Cao Đài Miền Trung tại “Trung Hưng Bửu Ṭa, Cơ quan Truyền giáo Cao Đài miền Trung” tại số 35, đường Nguyễn Hoàng, Đà Nẵng.

 

Tổ chức Việt Nam Dân Tộc Cách Mạng Đảng, (VNDTCMĐ) là một tổ chức phục quốc. Lúc đầu được quy tụ đa số là nhà giáo và các trí thức tại Đà Nẵng và Quảng Nam. Sau đó, số người tham gia đă lên tới con số ngàn, có Chiến khu-Mật khu. V́ thế, khi bị “B.2” của Cộng sản Hà Nội phá vỡ, vào tháng 7 năm 1977, đă có năm người đứng đầu bị “Ṭa án nhân dân” Đà Nẵng tuyên án tử h́nh. Trong số đó, Giáo sư Nguyễn Văn Bảy và hai vị khác là Giáo sư Trần Ngọc Thành và giáo sư Ông Văn Chinh đă bị xử bắn tại Ḥa Khánh, Đà Nẵng. Riêng c̣n hai người khác cũng bị tuyên án tử h́nh, mặc dù có ở tù, nhưng cho đến giờ này họ vẫn c̣n sống ???

 

Về vụ án này rất lớn, nên người viết không thể tường thuật cho hết. Vả lại, đây là một bài viết, để ghi lại những nỗi đau thương, nghiệt ngă trong gia đ́nh của các cựu tù “cải tạo” mà thôi, c̣n vụ án VNDTCMĐ, có thể người viết sẽ viết riêng trong một bài viết khác.

 

 

Vào tù “cải tạo”

 

Ngày “xử án” trong một “phiên ṭa” tại Đà Nẵng, sau khi tuyên án tử h́nh năm vị lănh đạo, th́ anh Đông đă bị “Ṭa án nhân dân” Đà Nẵng kết án tù chung thân; sau đó, “Ṭa phúc thẩm” đă giảm xuống c̣n 20 (hai mươi năm) tù ở. Và kể từ lúc anh Đông bị bắt, th́ chị Khuê cũng bị đuổi khỏi trường, không được dạy học nữa.

 

Cũng kể từ đó, có thêm anh Đông vào tù, là gia đ́nh của anh đă có ba người ở trong nhà tù “cải tạo” như đă nói: thân phụ và bào huynh và chính anh Đông.

 

Khi nhắc lại những thảm cảnh tù đày của các vị tù “cải tạo” của một thời đau thương cũ, người viết không làm sao có thể nén được những xót xa cho những cảnh đời khốn khổ, với những tấm thân gầy ṃn, v́ đói khát, lạnh lẽo, v́ kiệt sức sau những năm tháng bị lao động khổ sai, từng bước đi của người tù chẳng khác ǵ những bộ xương biết đi giữa chốn rừng thiêng, nước độc! Nhưng những thân nhân của người tù cũng chẳng khác ǵ hơn. Những người Mẹ, người Cha, anh, chị, em, con, cháu; và đặc biệt là những người vợ trẻ của tù “cải tạo” là đă phải gánh chịu nhiều đau thương; đồng thời, phải đối diện với vô vàn những oan khiên, nghiệt ngă nhất.

 

Và, chị Khuê, vợ của anh Đông, đă nằm trong số người bất hạnh ấy. Người viết phải kể những điều có thật đă xảy ra, rồi tùy theo suy nghĩ của mỗi người, có thể thương hay không thương người trong cuộc, nhưng v́ đó là những chuyện thật, của một trong những trang sử đau thương khi đất nước Việt Nam Cộng Ḥa, sau khi đă bị rơi vào tay của đảng Cộng sản Hà Nội.

 

Có ai thấu được những nỗi bi thương của một gia đ́nh đă có tới ba người phải bị vào tù “cải tạo”. Thân mẫu của anh Đông đă già yếu, không thể băng rừng, lội suối để đến nơi rừng sâu, núi thẳm để thăm nuôi chồng và hai người con trai, và v́ cụ bà c̣n hai người con trai đang học ở năm cuối của bậc trung học. Nhưng sau đó, dù học rất giỏi vẫn không được vào Đại học, v́ “lư lịch xấu” (có cha, và hai anh trai là tù “cải tạo”).  V́ thế, nên chính chị Khuê, một nhà giáo, dù đă có hai con nhỏ, nhưng c̣n rất trẻ, có nhan sắc, chân yếu, tay mềm, chỉ biết phấn trắng, bảng đen, phải vừa thăm nuôi Bố chồng, anh chồng và chính chồng của ḿnh.

 

Thế rồi, có một ngày, khi đến đồn công an để xin giấy thăm nuôi, th́ chị Khuê đă bị làm khó dễ, chị phải năn nỉ tên Loan, “Trưởng đồn công an” để được cấp giấy thăm nuôi. Và, sau lần đó, “ông trưởng đồn công an” đă “quan tâm” thường xuyên đến nhà chị Khuê, để rồi nói rằng sẽ giúp đỡ cho cả gia đ́nh của anh Đông được trả tự do sớm hơn. Sau nhiều lần, được “quan tâm” như vậy, chị Khuê đă nói, nếu cả ba người trong gia đ́nh của chị không được ra tù hết, th́ ít nhất cũng cho anh Đông được ra tù, để cùng chị lo cho con cái, và thăm nuôi hai người c̣n lại ở trong tù. Nghe chị Khuê nói như thế, tên Loan đă nói “sẽ thực hiện lời hứa”. Nhưng chắc mọi người đều biết, chẳng phải “quan tâm” ǵ đến những người thân của chị Khuê đang ở trong tù, mà chỉ v́ muốn chiếm lấy chị Khuê; v́ thế, chuyện ǵ đến, th́ phải đến. Và, đó là, khi: “Phẩm tiên rơi đến tay phàm… Một cơn mưa gió năo nề, Thương ǵ đến ngọc, tiếc ǵ đến hương”, để rồi, từng ngày trôi qua, chị Khuê cứ mỏi ṃn chờ đợi, mà chẳng thấy một người nào trong gia đ́nh của chị được ra tù cả. Nhưng oan nghiệt thay! V́ cũng kể từ đó, cái bụng của chị mỗi ngày lại cứ lớn lên. Chị đă mamg trong người giọt máu của kẻ thù! C̣n kẻ đă gieo rắc thảm họa cho chị, th́ không bao giờ đến nữa, v́ sợ liên lụy, sợ mất tương lai. Bởi thế, chị Khuê không biết làm ǵ hơn, là phải sinh và nuôi đứa con ngoài ư muốn của ḿnh!

 

Một điều đáng quư nhất, là cả gia đ́nh nhà chồng đều dành sự cảm thông và t́nh thương cho chị Khuê. Do đó, những tháng sau cùng, khi bụng chị lớn, th́ thân mẫu của anh Đông đă bảo hai người con trai, là em ruột của anh Đông đă nghỉ học, phải thay chị Khuê để thăm nuôi Cha và hai anh, và nói với anh Đông là chị Khuê “bị bệnh”.

 

 

Ở trong nhà tù “cải tạo”

 

Người viết đă từng cùng ở chung trong các trại giam với anh Đông, nhưng khác khu, khác pḥng v́ nam-nữ cách biệt, nhưng được nh́n thấy nhau, trong những lần đi tắm, giặt, làm vệ sinh như quét dọn; những lúc như thế, anh em có thể ra dấu thông tin cho nhau, bằng cách dùng ngón tay để viết lên khoảng không bằng những chữ vô h́nh, nhưng cả anh Đông và người viết đều hiểu; v́ đó, cũng là cách duy nhất để có được những thông tin với nhau của các cựu tù ngày ấy. Và người viết cũng bị chuyển đến các trại từ nhà giam Kho Đạn, chợ Cồn, ở số 15, đường Đào Duy Từ, Đà Nẵng, nhà giam Hội An và Tam Kỳ, gần hai năm để thẩm cung. Sau đó, khi chuyển lên trại “cải tạo” T.154, tại thôn 3, xă Phước Lănh, quận Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Sau ngày 30/4/1975 đă đổi thành xă Tiên Lănh. V́ thế, thường được gọi là trại Tiên Lănh, là hậu thân của “Trại cải tạo Đá Trắng” đă được thành lập từ năm 1959.

 

Người viết không bao giờ quên những năm tháng ở trong nhà tù “cải tạo”, với những lần đi cấy, gặt lúa, trồng sắn… tại Đồng Cừ, nơi có mặt của anh Đông, v́ “ban giám thị” của trại đă cho “cắt công” cho anh Đông lên ở một cái cḥi nhỏ trên đồi sắn của Đồng Cừ, để “giữ sắn”. Ngày ấy, mỗi lần người viết đi “lao động” ở đó, th́ đến buổi trưa, anh Đông thường xuống căn cḥi “giữ nước ruộng” của Mục sư Dương Đ́nh Nguyện, “xin phép cán bộ” để mamg quà thăm nuôi của vợ anh cho người viết, là những gói bánh, mứt… và nói: “quà của chị Khuê thăm anh đó, em và các bạn ăn lấy thảo”. Người viết luôn xem anh như người anh ruột thịt của ḿnh, v́ thân phụ của anh là vị thầy dạy học khả kính của người viết, và là người rất thân thiết với thân phụ của ḿnh, lại thêm thân mẫu của anh cũng bà con “bạn d́” họ của người viết nữa.

 

Phần anh Đông, với bản án 20 năm tù ở, v́ trong suốt thời gian “cải tạo” anh không “vi phạm nội quy”, nên qua những đợt giảm án tại trại “cải tạo” anh được giảm xuống c̣n 10 năm.

 

Ngày ra tù, trở về, anh Đông đă gần như gục ngă khi biết vợ của ḿnh đă sinh ra một đứa trẻ là con của tên Loan, “trưởng đồn công an”. Thấu hiểu được những đau đớn của anh, nên cả gia đ́nh của anh luôn an ủi, và đă kể rơ những chuyện đă xảy ra cho chị Khuê. Anh Đông cũng đă tỏ ta rộng lượng không trách móc chị Khuê lời nào. Thấy vậy, gia đ́nh anh cũng như bà con đều mừng, v́ tưởng rằng mọi chuyện sẽ êm xuôi, gương vỡ lại lành. Anh Đông c̣n rộng lượng hơn nữa, khi thằng bé con của “trưởng đồn công an” bỗng bị bạo bệnh, anh Đông vẫn giúp chị Khuê đưa đứa nhỏ vào bệnh viện, nhưng không cứu được, và nó đă chết.

 

Sau khi thằng bé đă chết, cả gia đ́nh cũng như bà con đều nghĩ, có lẽ sự an bài đó, sẽ làm cho anh chị hạnh phúc hơn; bởi không một ai có thể biết được rằng, kể từ lúc được ra tù, anh Đông đă không hề có được một phút giây ân ái với người vợ mà anh đă hết ḷng yêu thương, mặc dù anh rất muốn.

 

Người viết vẫn nhớ những lời của chị Khuê đă tâm sự với ḿnh:

“Chị biết anh Đông vẫn thương chị nhiều lắm, nhưng cô có biết không, là ngay đêm đầu tiên sau khi ra tù, anh Đông đă ôm chị trong ṿng tay với những lời cám ơn chị đă chu toàn bổn phận của một người vợ, đă thăm nuôi Cha, anh Cả và chồng ở trong nhà tù, nhưng chính cái giây phút anh Đông cúi xuống để đặt nụ hôn lên môi của chị, th́ thằng nhỏ oan nghiệt kia, nó ở pḥng bên cạnh bỗng trở ḿnh thức giấc, và khóc. Chính tiếng khóc đó, đă khiến cho anh Đông phải buông chị ra, và ôm mặt khóc. Và chị cũng hiểu những ǵ đang ẩn chứa trong những ḍng nước mắt của anh Đông, chị cũng khóc; và từ đó, kể cả chị nữa, cũng không thể lấy lại sự b́nh thường, như một người vợ trước kia, dù cả hai anh Đông và chị đều rất muốn! Đêm đêm vợ chồng chị vẫn cùng chung chăn, kề gối, nhưng không hề có được một giây phút hạnh phúc như những ngày tháng cũ, chị yêu anh, chị thông cảm nỗi ḷng của anh, chị không trách anh, mà chỉ trách những người đă đẩy đất nước này rơi vào tay của Cộng sản, để rồi không phải riêng chị, mà chắc chắn đă có rất nhiều hoàn cảnh đau thương đă xảy ra như đă xảy ra đối với anh chị. V́ thế, nếu sau này, có điều ǵ xảy ra, th́ chị mong cô hăy nói với anh Đông rằng chị yêu anh Đông suốt đời, và không hề trách chồng chị bao giờ”!

Đó là những lời nói của chị Khuê, một nhà giáo hiền lành, không biết nói nặng lời với bất cứ ai. Nhưng người viết không ngờ, đó là những lời nói sau cùng, trước khi bỗng nhiên chị Khuê bỏ nhà ra đi biệt tích!

 

Ngày chị Khuê ra đi, không để lại cho anh dù một ḍng chữ từ biệt, anh Đông đă chết lặng, không nói được lời nào. Ngưới viết đă kể lại cho anh Đông nghe về những lời của chị Khuê đă nói với ḿnh, nhưng rất ân hận v́ không kể với anh sớm hơn! Kể từ ngày chị Khuê ra đi, anh Đông đă khóc, lúc nào anh buồn, v́ thương nhớ chị Khuê, và v́ anh em rất thương nhau, nên anh cũng tâm sự với người viết:

“Anh hết dạ yêu thương chị Khuê em ạ, anh không hề trách vợ ḿnh, v́ chị Khuê đă làm tṛn bổn phận của một người con dâu thảo hiền, thay anh phụng dưỡng mẹ già, lại c̣n thăm nuôi cả ba người tù, là Cha anh, anh Cả và anh nữa; nhưng xin em hiểu cho anh, em hăy tự đặt ḿnh vào cảnh ngộ của anh, th́ em mới hiểu được tất cả, anh làm sao có thể hạnh phúc khi h́nh ảnh của đứa bé kia, dù nó sống, hay nó đă chết, nhưng một sự thật quá tàn nhẫn, v́ nó là con của thằng Loan, “trưởng đồn công an” trước kia, nó từng là một tên gia nhân của gia đ́nh anh. Và em đă biết rồi đó, thằng Loan nó đă từng đối xử tàn ác với nhiều người trong làng của ḿnh, trong đó có cả em nữa mà. Anh sẽ không bao giờ lấy vợ nữa, và suốt đời này, anh vẫn chờ đợi ngày được gặp lại chị Khuê”.

 

Nhưng có lẽ định mệnh luôn an bài cho số phận của mỗi con người như Dale Carnegie đă nói: “Bàn tay của định mệnh chỉ viết xuống một lần trên cát, rồi biến mất, không ai có thể thay đổi được nữa”.

 

Nếu quả thật đúng như thế, th́ những bi thương biết nói sao cho vừa! Bởi v́, từ ngày ra đi, xa chồng, nhớ con, làm sao biết được chị Khuê đă và đang sống như thế nào ?! C̣n anh Đông sẽ chờ đợi chị Khuê cho đến bao giờ, hay là măi măi!

Ngày liều ḿnh vượt biển, người viết cũng muốn đưa anh Đông cùng đi, nhưng anh vẫn cứ nói: “Anh c̣n chờ đợi chị Khuê”; rồi cho đến khi thân phụ và bào huynh của anh lên đường sang Hoa Kỳ theo diện tù “cải tạo”. Sau dó, mặc dù, đă có nhiều lời khuyên, nhưng anh vẫn không chịu ra đi đoàn tụ với gia đ́nh trên đất Mỹ, v́ anh vẫn cứ nói: “Không thể ra đi, khi không có Khuê”.

 

Giờ Đây, anh Đông cũng như mọi người thân của chị Khuê, không một ai biết được chị Khuê đă và đang sống hay đă chết ở một phương trời nào, c̣n anh Đông th́ vẫn cứ mỏi ṃn chờ đợi, có thể là cho hết một đời người, và cho đến khi nhắm mắt ĺa đời vẫn không được nh́n thấy lại người vợ mà anh vẫn một ḷng yêu thương, trọn vẹn thủy chung!

 

Người viết rất quư, rất thương và hiểu được cả anh Đông và chị Khuê. Nhưng nếu trên t́nh anh em trong gia đ́nh, mà phải có ư kiến cho cả anh và chị, th́ thật ḷng, người viết không dám có một lời nào. Người ta thường nói: “gương vỡ lại lành”, nhưng người viết lại không bao giờ tin điều ấy. Chính v́ thế, nên nếu chị Khuê hiện giờ c̣n sống ở một nơi nào đó, vẫn độc thân, th́ người viết cũng không dám “khuyên” chị hăy trở về với anh Đông, v́ người viết nghĩ rằng, anh Đông dù hết ḷng yêu thương vợ, không trách móc vợ, nhưng nhất định không bao giờ tin rằng, h́nh ảnh của đứa bé oan nghiệt kia, là con của một gia nhân, và cũng là một kẻ đă từng ở bên kia chiến tuyến, th́ không có một “phép lạ” nào có thể khiến cho anh Đông quên đi tất cả cho được. V́ thế, tất nhiên, dù có gặp lại nhau, th́ anh Đông và chị Khuê làm sao để quên hết tất cả, để có hạnh phúc một cách trọn vẹn, mà có thể c̣n gây đau khổ cho cả vợ lẫn chồng!

 

Thế nhân thường nói: “T́nh xa, t́nh tuyệt vọng, là t́nh đẹp thiên thu”. Anh Đông và chị Khuê đă một thời hạnh phúc chồng vợ gối chăn, của một thời gắn bó với phấn trắng, bảng đen, nên người viết nghĩ rằng, cả hai anh chị hăy nuôi nấng và trân quư trong tâm hồn những kỷ niệm của một thời dấu ái; c̣n hơn là “sum họp” trong những nỗi đau đớn của một vết thương quá sâu, quá nặng, nên không bao giờ nguyên lành trở lại!

 

Và, người viết đă từng nghe chị Khuê và cả anh Đông tâm sự, cả hai vợ chồng đều không trách nhau. Tuy nhiên, người viết vẫn nhớ đến câu nói của chị Khuê, nên xin chép lại một lần nữa, để xin gửi về anh Đông hiện vẫn c̣n sống tại quê nhà, để anh hiểu và thương thêm về tấm ḷng của chị Khuê, của vợ anh, là nạn nhân của một ngày tang thương của đất nước Việt Nam Cộng Ḥa: Ngày 30/4/1975:

“Đêm đêm vợ chồng chị vẫn cùng chung chăn, kề gối, nhưng không hề có được một giây phút hạnh phúc như những ngày tháng cũ, chị yêu anh, chị thông cảm nỗi ḷng của anh, chị không trách anh, mà chỉ trách cho những người đă đẩy đất nước này rơi vào tay của Cộng sản, để rồi không phải riêng chị, mà chắc chắn đă có rất nhiều hoàn cảnh đau thương đă xảy ra như đă xảy ra đối với anh chị. V́ thế, nếu sau này, có điều ǵ xảy ra, th́ chị mong cô hăy nói với anh Đông rằng, chị yêu anh Đông suốt đời, và không hề trách chồng chị bao giờ”!

 

 

Pháp quốc, 10/7/2012

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

 

 

 

 

Trang Chính     Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Phỏng Vấn     Văn Học Nghệ Thuật     Tham Khảo