Nhớ Lại Cuộc Thảm Sát Thanh Bồ-Đức Lợi, Đà Nẵng: 24-8-1964

(1/2)

 

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

 

 

 

 

Kể từ khi nước Việt Nam Cộng Ḥa rơi vào tay cộng sản, th́ người Việt tỵ nạn chúng ta chỉ c̣n biết và tưởng niệm ngày 30/4/1975, là ngày Quốc Hận. Nhưng ngược thời gian trở về cuối thập niên 1950, và đầu năm 1960. Khi Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, Người đă khai sinh ra nền Cộng Ḥa Việt Nam, th́ người dân miền Nam đă từng tưởng niệm Ngày Quốc Hận là ngày 20/7/1954. Ngày ấy, theo hiệp định Genève, đất nước đă bị cộng sản Bắc Việt và Pháp chia cắt thành hai miền bởi gịng sông Bến Hải. Miền Bắc do Hồ Chí Minh cai trị, với những cuộc “cách mạng” máu đổ đầu rơi, con tố cha mẹ, vợ tố chồng. Rồi “cách mạng văn hóa” làm cho không biết bao nhiêu người đă phải chết thảm, hoặc bị tù đày, tàn hại đến cả một đời người!


Trong khi đó, tại miền Nam. Dưới sự lănh đạo của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm đầy ḷng nhân áí, Người đă quên ḿnh, tận hiến cho Quốc Gia và Dân tộc, v́ không phải chỉ ưu tư riêng cho người dân miền Nam, mà là toàn dân Việt;  trong đó, có cả đồng bào đang phải sống dưới chế độ cộng sản ở bên kia vĩ tuyến. Thời kỳ ấy, Nền Cộng Ḥa Việt Nam c̣n non trẻ, không được đồng minh và quốc tế viện trợ như Việt Nam cộng sản hiện tại. Nhưng Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm đă xây dựng được một nước Việt Nam Cộng Ḥa tự do, phồn thịnh. Từ thành thị cho đến thôn quê, nơi đâu cũng được sống trong cảnh thanh b́nh. Ngày đó, ở quê tôi mỗi đêm về, tôi thường được nghe những tiếng sáo trúc và tiếng đàn Mandoline, qua nhiều bài ca mà tôi vẫn c̣n nhớ, như bài: “Khúc hát ân t́nh” sau đây:

 

“Người từ (là) từ phương Bắc, đă qua gịng sông, sông dài, t́m đến phương này, một nhà thân ái. Ơi! ... T́nh Bắc duyên Nam t́nh chung muôn đời ta đắp xây.

 

Gặp nàng, nàng là thôn nữ, mắt duyên cười say môi hồng, t́nh thắm đôi ḷng, mộng vàng chung bóng. Ơi ... Mạch sống dâng hương (là hương) cần lao chung đời vai sánh vai.

 

Cùng góp bàn tay, thương yêu nhau rồi, ngô khoai hai mùa ngát một niềm vui, cho thơm hương đời lúa vàng t́nh ơi. Ngày mai hạnh phúc nơi nơi reo cười, quê hương thôi đau sầu ngăn sông núi cách chia, ta đem yêu thương về cho phương Bắc.

 

T́m về mănh vườn hoa thắm, hái bông tầm xuân trao nàng lời hát ân t́nh hồng hồng đôi má. Ơi ... đời sống yên vui. D́u nhau đi vào chung bóng mơ”.

 

 

Tuy nhiên, dẫu rằng được sống trong an b́nh, no ấm. Nhưng người dân miền Nam tự do vẫn biết, và hướng vọng đến những đồng bào ruột thịt, đang phải gánh chịu những khổ đau ở bên kia vĩ tuyến, như lời của con sông Bến Hải:

 

“... Con sông Bến Hải từ độ chia hai,

 Đêm đêm nó khóc than hoài

Hờn căm cộng sản chia hai nhịp cầu

Lớn lên từng đợt u sầu

Bao giờ Nam-Bắc nhịp cầu sang ngang

Bên đây đời sống thênh thang

Bên kia kiếp sống điêu tàn xác xơ

Ruộng đồng lúa mọc lơ thơ

Máu pha nước mắt ngập bờ tre xanh. ......”

 

Chính v́ thế, mà Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm đă có chủ trương Bắc Tiến. Nhưng tiếc rằng, con đường Bắc Tiến chỉ mới ở bước đầu, th́ vị Tổng Thống đă có công nghiệp khai sinh ra Nền Cộng Ḥa Việt Nam đă đi vào lịch sử.

 

 

 Đôi Ḍng Về Đồng Bào Miền Bắc Di Cư Tỵ Nạn Cộng Sản.

 

Nhưng có phải tất cả người dân Việt sống trên mănh đất miền Nam, cũng đều được sống trong yên lành như đă kể hay không? Tôi xin thưa ngay là KHÔNG. Và những người dân ấy là ai? Tôi cũng xin thưa: Họ là đồng bào miền Bắc, họ đă từng đứt ruột, nuốt nước mắt rời bỏ nhà cửa, ruộng vườn lên đường vào Nam để trốn chạy cộng sản. Trong hơn một triệu người di cư đó, không phải tất cả đều là người Công Giáo, mà c̣n có Phật giáo, hoặc chỉ theo “đạo” thờ cúng ông bà. Họ đă vào Nam với đôi bàn tay trắng. Nếu so với sự giúp đỡ của các nước Âu-Mỹ đối với người Việt tỵ nạn cộng sản sau 30/4/1975, th́ vào thời ấy, v́ đất nước c̣n nghèo, nên Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm chẳng giúp đỡ cho người Bắc di cư được bao nhiêu. Ngay cả nước Pháp, mà ngày xưa người Việt đă từng gọi họ là thực dân, từng chiến đấu chống họ. Nhưng những người Việt tỵ nạn tại Pháp, vẫn được hưởng những quyền lợi không kém người bản xứ. V́ thế, làm cho họ bực bội không ít. Tôi chỉ nói qua đôi chút khi người Việt mới đến Pháp như sau:

 

 Khi đặt chân đến nước Pháp, bốn tháng đầu tiên, người Việt tỵ nạn cộng sản ở tại trung tâm tiếp nhận người tỵ nạn, được trợ cấp tiền bạc, nhà ở, điện, nước miễn phí. Sau bốn tháng, văn pḥng xă hội phải lo t́m thuê nhà, rồi c̣n dắt người ḿnh đi xem nhà, được chọn lựa, khi nào vừa ư, ḿnh chấp nhận. Lúc đó họ phải lo mua sắm giường, tủ, bàn, ghế ... Nói chung, là họ trang bị tất cả các vật dụng cần thiết, mà là đồ mới. Khi ấy, người tỵ nạn mới chịu đến ở. Những người có mức thu nhập thấp bị bệnh tật, đôi khi có trực thăng chở đi cấp cứu, nằm bệnh viện, kể cả bệnh viện tư, hoặc bác sĩ đến tận nhà khám bệnh, chính phủ cũng trả tiền trăm phần trăm. Người già trên bảy mươi tuổi, nếu không tự lo cho bản thân được, th́ văn pḥng xă hội cho người hàng ngày đến tận nhà chích thuốc, tắm rửa, nấu nướng, rồi múc thức ăn đưa tận miệng, cho ăn, uống ... ...Chính phủ cũng trả tất cả các chi phí.

 

 Như vậy, so với đồng bào miền Bắc di cư vào Nam vào thời điểm 1954. Họ không được Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm ưu đăi quá nhiều, như một số người đă cố ư tuyên truyền. Như đă nói, họ vào Nam với khối óc và đôi bàn tay trắng, họ bắt đầu xây dựng lại tất cả. Trong đoàn người di cư ấy. Một số đông đă dừng chân tại thành phố Đà Nẵng. V́ mới vào vùng đất mới, họ đă t́m đến những khu đất rộng, thưa dân, để dựng lên những căn cḥi cùng chung sống với người dân xứ Quảng. Rồi sau đó là những mái tranh, những căn nhà lợp ngói khang trang bởi óc sáng tạo, kèm theo sự chịu đựng khó nhọc, tảo tần như họ vẫn thường nói: “Buôn tàu bán bè, không bằng ăn dè hà tiện.” Và tại thành phố Đà Nẵng đă có nhiều khu định cư của đồng bào miền Bắc như: Thanh Bồ, Đức Lợi, Thanh B́nh, Tam Ṭa, Phước Tường và Sơn Trà. Trong những khu này không phải chỉ có người Bắc Công Giáo, mà có người Bắc Phật giáo, và cả người Quảng Nam cùng sống chung trong t́nh thân ái.

 

 Nhưng ác hại thay, các ông thầy chùa vốn ḷng dạ bất nhân, nên cứ thường xuyên t́m mọi cách để tuyên truyền, xuyên tạc, bịa đặt ra những điều mà đến Trời cũng phải sợ, nên tôi chẳng dám viết lên bất cứ ở nơi đâu. Trên đời này, ai cũng biết miệng người, đôi khi cũng độc hại chẳng kém miệng rắn. Nhưng miệng rắn hay độc dược, đôi khi cũng không độc hại bằng miệng của thầy chùa.

 

 Để chứng minh, tôi xin tường thuật và nêu lên đầy đủ những sự kiện và nhân chứng về cuộc thảm sát tại Thanh Bồ-Đức Lợi, Đà Nẵng vào ngày 24/8/1964.

 

 

 Nguyên Nhân Của Cuộc Thảm Sát Thanh Bồ-Đức Lợi:

 

 Thực ra, những nguyên nhân mà các “thầy” đưa ra đều không đúng với mục đích chính. V́ tất cả không hề có một chút ǵ dính dáng đến đồng bào miền Bắc di cư cả. Như tất cả quư vị, những ai có đọc sách, báo, hay đă từng theo dơi qua các biến cố trước ngày mất nước, đều đă biết đến cái nguyên nhân của cuộc tấn công Thanh Bồ-Đức Lợi là bởi cái “Hiến chương Vũng Tàu”. Do tướng Nguyễn Khánh công bố. Nhưng thật vô cùng tàn ác, v́ Phật giáo đă mượn cái “Hiến Chương Vũng Tàu” để đánh giết và tiêu trừ đồng bào miền Bắc di cư. V́ đồng bào miền Bắc nói chung, và đồng bào Thanh Bồ-Đức Lợi nói riêng KHÔNG hề dính dáng,và cũng KHÔNG ủng hộ tướng Nguyễn Khánh hay cái “Hiến Chương Vũng Tàu”. Nhưng cũng thật vô cùng phi lư, khi Phật giáo thành lập “Hội đồng Nhân dân Cứu quốc”, tại Đà Nẵng do Thích Đôn Hậu “lănh đạo”. Và nói là để “phản đối Hiến Chương Vũng Tàu”; nhưng rồi sau đó lại tấn công, đánh, giết ông Trần Sô và đồng bào miền Bắc di cư. Đồng thời đốt sạch nhà cửa của họ. Tôi cũng xin nói thêm, là cũng cùng thời gian. Phật giáo cũng đồng loạt phong tỏa các khu định cư của đồng bào miền Bắc như: Thanh B́nh, Tam Ṭa, Phước Tường và Sơn Trà. Để chuẩn bị tấn công như Thanh Bồ-Đức Lợi. Nhưng, như người dân Đà Nẵng đă từng nói với nhau rằng: Có lẽ những tiếng kêu cầu đầy nước mắt, đau thương, tang tóc của đồng bào trong cơn máu lửa, đă thấu đến tận Trời cao. Nên ông Trời đă nhủ ḷng xót thương, mà cứu vớt những đồng bào trong các khu dân cư c̣n lại.

 

Trở lại với cái gọi là “Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc”. Tại Đà Nẵng: Ngày 24/8/1964, Thích Đôn Hậu, Chánh đại diện Phật giáo miền Vạn Hạnh (miền Trung) đă đưa “Lực lượng Phật giáo Cứu quốc” từ Huế vào Đà Nẵng. Trong đó, có những tên quen thuộc như sau:

 

 Bác sĩ Lê Khắc Quyến: Chủ tịch Trung ương Hội đồng Nhân dân Cứu quốc, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Lê Tuyên, Tôn Thất Dương Kỵ, Tôn Thất Hanh ... Và khoảng hai ngàn “Thanh niên Phật tử Cứu quốc” vào Đà Nẵng, kết hợp với “Lực lượng Phật giáo Cứu quốc Đà Nẵng” với những tên cầm đầu như: Phan Xuân Huy, La Thành Tỵ, Hà Xuân Kỳ, Phan Chánh Dinh, Vĩnh Kha, Vĩnh Linh, Hồ Công Lộ, Nguyễn Văn Lương, Lê Văn Tương, Nguyễn Văn Côn, Nguyễn Văn Tổng ...

 

 Phía thầy chùa gồm có:  -Thích Minh Chiếu, Thiếu tá Trưởng pḥng Tuyên úy Phật giáo Vùng 1 Chiến thuật, kiêm Chánh Đại diện Tỉnh hội Phật giáo Đà Nẵng. (Hiện nay, là Ḥa thượng viện chủ “Chùa Phật giáo Việt nam” tại Hoa Kỳ, như tôi đă viết trong bài Những Mùa Xuân Qua ở số Báo Xuân Đinh Hợi.

 

- Thích Hạnh Đạo, Đại úy Tuyên úy phó Đại diện Tỉnh hội Phật giáo Đà Nẵng. Thích Hạnh Đạo hiện đang có mặt tại Hoa Kỳ.

 

- Thích Minh Tuấn: Ngày 30/4/1975, là Hiệu trưởng trường Trung học Bồ Đề, Đà Nẵng, đă đích thân dẫn đầu “Lực lượng Ḥa hợp-Ḥa giải Phật giáo” đă đưa cả đoàn xe ra tận đèo Phú Gia để đón bộ đội Bắc Việt của Nguyễn Chơn tướng Việt cộng, vào thành phố Đà Nẵng mà tôi đă viết qua bài 30/4/1975: Máu và Nước Mắt. ( Hiện nay, là Ḥa thượng, qua Đại hội ngày 01/10/2003, đă được “Suy cử” vào “Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương Viện Tăng Thống GHPGVNTN”.

 

- Thích Long Trí, Chánh Đại điện Tỉnh hội Quảng Nam.

 

- Thích Như Huệ, Đại úy Tuyên úy, phó Đại diện Tỉnh hội Quảng Nam. Hiện nay, là Ḥa thượng, qua Đại hội ngày 01/10/2003, Thích Như Huệ đă được “Suy cử” vào “Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương Viện Tăng Thống kiêm Chủ tịch Giáo hội Phật Giáo tại Úc và Tân Tây Lan”.

 

 - Thích Thiện Duyên, Chánh Đại diện Tỉnh hội Quảng Tín.

 

 

Khủng Bố và Giết Người:

 

Từ sáng sớm ngày 24/8/1964, Các khuôn hội Quảng Nam-Đà Nẵng, đă ra lênh cho Phật tử tập trung về chùa Pháp Lâm ở số 500, đường Ông Ích Khiêm ĐN, để đi biểu t́nh. Mặt khác, các thầy ra lệnh cho “Lực lượng Thanh niên Phật tử Cứu quốc” tay cầm gậy gộc, gạch, đá xông vào các chợ buộc đồng bào phải băi thị để đi biểu t́nh. Điều này, trong “Mùa Biển Động, tập 1” nhà văn Nguyễn Mộng Giác có viết, tôi xin được trích nguyên văn như sau:

 

“Ban chủ biên tờ Lập Trường, Giáo hội Phật giáo miền Trung, cử cán bộ đi vào, đi ra đèo Hải Vân như thoi dệt cửi. Trong các địa phương, Mặt trận hy vọng tổ chức được các chi nhánh hùng hậu. Đà Nẵng là chỗ có nhiều hy vọng nhất. C̣n Quảng Nam, Quảng Ngăi ư ? Thế lực Quốc Dân Đảng cực đoan mạnh quá, trong khi Phật giáo lại yếu kém rời ră ... Tường đích thân vào Đà Nẵng lo phát động phong trào là do vậy. Chàng không bao giờ xem thường thế lực Công Giáo ở đây, là các khu giáo dân bao quanh thành phố ... Đà Nẵng không phải là chỗ dễ bác sĩ Chủ tịch đă vỗ vai cẩn thận dặn ḍ Tường... “ Và “ Không thể chấp nhận được rằng: Trong lúc ḿnh thao thức với t́nh h́nh đất nước, lại có những người dân Đà Nẵng thản nhiên ngồi quán phở, thản nhiên ngồi quán chờ từng giọt cà phê rơi xuống cái ly sữa, thảnh thơi đi chợ, thảnh thơi đi bát phố. Họ cũng không chấp nhận cả những kẻ bỏ Đà Nẵng tất bật rối rít lên sân ga, bến xe, bến phà để đi làm ăn nơi khác ... Cho nên trước cuộc biểu dương thành h́nh. Nhiều toán học sinh lực lưỡng cầm gậy, đến các chợ buộc bạn hàng băi thị, lên bến xe buộc tài xế, lơ xe nghỉ việc. Giới chợ búa đâu có chịu nhượng bộ dễ dàng ...”

 

 Quư độc giả đă đọc qua bài 30/4/1975: Máu Và Nước Mắt và Cuộc Bạo Loạn Miền Trung: Mùa Hè 1966. Bây giờ lại đọc những ḍng của nhà văn Nguyễn Mộng Giác đă viết. Chắc quư vị đă biết qua các biến cố ấy, đă có rất nhiều người Bị đi biểu t́nh, Bị đi diễn hành chứ không phải do tự nguyện.

 

 Và người viết tự thấy, phải cần nói đến những hành vi khủng bố của “Thanh niên Phật tử Cứu quốc”. Khi đám này dùng gậy gộc lùa được một số đồng bào từ các chợ đến “chùa” Pháp Lâm, th́ tại sân chùa cũng đă đủ mặt “Lực Lượng Phật Tử Cứu Quốc”. Những tên côn đồ này là tự nguyện, v́ đă đi theo tiếng gọi của ... thầy chùa. Tại “chùa” Pháp Lâm.

 

Người cầm đầu “Lực lượng Phật giáo Cứu quốc” là Thích Minh Chiếu với chức Thiếu tá Trưởng pḥng Tuyên Úy Phật giáo Vùng 1 Chiến thuật. Y đă trang bị vũ khí cho “Thanh niên Phật tử Cứu quốc”. Thích Minh Chiếu đă ra lệnh cho đoàn biểu t́nh phải đi đến sân vận động Chi Lăng, tại đường Đông Kinh Nghĩa Thục để dự “mít-tinh”. Nhưng một điều đă làm cho người dân cả thanh phố Đà Nẵng, đều phải kinh hoàng, khủng khiếp. Đó là lúc đoàn biểu t́nh đang đi từ “chùa” Pháp Lâm đến trước pḥng mạch của Bác Sĩ Thái Can (tức thi sĩ Thái Can), ở ngă ba đường Hùng Vương-Triệu Nữ Vương, nh́n xéo sang rạp hát Chợ Cồn. Th́ cũng là lúc ông Trần Sô một Hạ sĩ quan thuộc chi khu Điện Bàn, Quảng Nam vừa dắt đứa con trai mười tuổi đi khám bệnh ở pḥng mạch của Bác Sĩ Thái Can. Lúc ông Trần Sô vừa ra khỏi pḥng mạch, một tay ông dắt chiếc xe đạp, tay kia dắt đứa con nhỏ. Vừa ra đến cổng, th́ trong đoàn biểu t́nh bỗng có nhiều tiếng la lớn:

 

“A... Cái thằng Cần Lao ác ôn... Nó là thằng Cần lao ác ôn... Bắt nó đi... Đánh cho chết nó đi... .”

 

 Đứa con nhỏ của ông Trần Sô sợ quá, nên chui vào phía trong cổng, và đă được cứu sống. C̣n ông Trần Sô không sao thoát được, v́ lũ côn đồ này quá đông. Chúng liền xông vào, túm lấy ông rồi dùng gậy gộc, gạch, đá, nắm đấm, chân giày, chúng thi nhau đánh, đấm, đạp cho đến khi ông đă chết hẳn, toàn thân và áo quần ông nhuộm đầy máu. Nhưng chúng vẫn chưa tha. Chúng c̣n xúm nhau bê một tảng đá lớn, đem giáng thẳng xuống mặt của ông, làm cho đầu ông bẹp dí sát mặt đường, máu và óc của ông ḥa lẫn thành một băi bầy nhầy trắng, đỏ, hồng, chẳng ai c̣n thấy mặt mũi của ông nữa cả.

 

Sau đó, khi đoàn biểu t́nh bỏ đi, nhờ những giấy tờ tùy thân trong túi áo của ông, đồng bào đă xác định tên họ của ông, nên họ đă cho người nhắn tin cho thân nhân đi nhận xác. Nhận được hung tin, một người nỗi tiếng tại Quảng Nam đó là Học giả Trần Thuyên, ông là con trai út của nhà cách mạng Trần Quư Cáp, đă đến nhận xác ông Trần Sô là cháu gọi ông Trần Thuyên là chú. Khi nhận xác ông Trần Sô ông đă thốt lên: Thật vô cùng dă man.”.

 

Trước cảnh thương tâm ấy, chính Bác Sĩ Thái Can đă giúp hai ngàn đồng (tiền VNCH), để chôn cái xác không đầu của ông Trần Sô. Điều này, trước đây khi Bác Sĩ Thái Can c̣n khỏe tôi đă có viết qua trên Văn Nghệ Tiền Phong. Song, không phải là một bài viết về cuộc thảm sát Thanh Bồ-Đức Lợi, nên không đầy đủ. Học giả Trần Thuyên hiện đang có mặt tai Hoa Kỳ. Cụ đă cho xuất bản cuốn sách “Tôi Đă Chọn” Cụ đă chọn con đường vác Thánh Giá. Cái chết của ông Trần Sô, một quân nhân gương mẫu, một người hiền lương. C̣n ông có phải Cần Lao hay không, chẳng ai biết được. Nhưng nếu là Cần Lao th́ phải chết thảm như thế hay sao? V́ thế, cái chết đau thương của ông Trần Sô, th́ cho đến hôm nay, và măi măi không thể phai mờ trong tâm trí người dân Đà Nẵng.

 

Sau khi giết chết ông Trần Sô. Thích Minh Chiếu ra lệnh cho đoàn biểu t́nh tiếp tục đi đến sân vận động Chi Lăng dự “mít-tinh”. Với khẩu hiệu: “Đả đảo Mỹ-Khánh”. Đến cuối cuộc “mít-tinh”, số đồng bào đă bị lùa ở các chợ đi biểu t́nh cứ tưởng rằng sẽ được cho về. Không ngờ, Thích Minh Chiếu lại ra lệnh tất cả phải xuống Ṭa Thị Chính Đà Nẵng. Khi đến trước Ṭa Thị Chính ở đường Bạch Đằng, “Lực Lượng Phật Giáo Cứu Quốc” đă dùng loa phóng thanh kêu gọi Hải quân Đại tá Lê Quang Mỹ, Thị trưởng Đà Nẵng phải ra tŕnh diện, và phải bàn giao chức Thị trưởng Đà Nẵng cho Phan Xuân Huy. Đại tá Lê Quang Mỹ không chấp nhận, nên ông đă trốn ra cửa sau, rồi chạy ra Duyên Khu Hải Quân Tiên Sa, để tỵ nạn Phật giáo.

 

 Sau cả giờ gào thét ră hơi, mà vẫn không thấy bóng dáng của Đại tá Lê Quang Mỹ ở đâu cả, bọn Tăng Phỉ như: Thích Minh Chiếu, Thích Như Huệ, Thích Hạnh Đạo, Thích Long Trí, Thích Thiện Duyên, Thích Từ Mẫn, Thích Minh Tuấn ... cùng Phan Xuân Huy, La Thành Tỵ... là những tên Hạ Bộ của thầy chùa, đă ra lệnh cho “Lực Lượng Phật Giáo Cứu Quốc” xông vào Ṭa Thị Chính lục soát. Chúng đă lùng xét từng pḥng, nhưng không t́m thấy Đại tá Lê Quang Mỹ, nên lũ lục lâm này tưởng rằng Đại tá Lê Quang Mỹ đang trốn một chỗ bí mật nào đó, chứ không thể chạy ra ngoài được. V́ vậy,  chúng đă đập phá hết các vật dụng, rồi dùng xăng tưới vào các pḥng và châm lửa đốt cháy Ṭa Thị Chính. Duy có một điều đă khiến mọi người dân Đà Nẵng đều phải khiếp sợ Phật giáo Ấn Quang. Ấy là tất cả các cuộc biểu t́nh, các “thầy” đều ra lệnh cho “Phật tử ruột” khi đi “biểu t́nh” phải đem theo đầy đủ gậy gộc, gạch, đá... và bắt buộc phải mang xăng theo. V́ thế, tất cả những cuộc “biểu t́nh” cũng đều có lửa và máu!!!

 

(xin đọc tiếp bài 2)

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính