- Bài 2 -

 

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

 

 

 

 

  

Mùa Xuân năm trước, vào dịp Tết Nhâm Th́n, 2012, người viết đă có một bài thứ nhất, cùng tên với tựa đề bài này, và đă viết về “ba mối t́nh lớn” của Thúy Kiều, cũng như những giọt nước mắt lẫn với nụ cười, và những đ̣n ghen của Hoạn Thư. Nhưng hôm nay, những ngày cuối cùng của năm cũ sắp qua, để nhường chỗ cho một năm mới: Xuân Quư Tỵ, 2013, lại đến. Một lần nữa, người viết cũng trở lại với truyện Kiều; nhưng lần này, chỉ viết riêng về anh hùng Từ Hải.

 

Như quư độc giả đă biết, truyện Kiều đă được viết và dịch ra nhiều ngoại ngữ khác nhau bởi các Học giả lớn như:  Sử gia-Học giả Trần Trọng Kim và các Học giả như:  Bùi Kỷ, Dương Quảng Hàm, Đào Duy Anh, Trương Vĩnh Kư, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Đăng Thục, Tản Đà vv...

 

Và, có lẽ quư độc giả đă thấy, hầu hết các Sử gia, Học giả đă viết về truyện Kiều cũng đều xem Từ Hải là anh hùng. Chính v́ những điều ấy, nên trước khi viết tiếp, v́ là kẻ hậu sinh, nên người viết xin chân thành tạ lỗi các bậc tiền bối, bởi dám viết ngược lại những điều mà các vị đă viết ra từ cả hàng trăm năm trước.

 

Khi viết về truyện Kiều, th́ có lẽ trong chúng ta, ai cũng thấy, không biết tự bao giờ, nhưng người Việt ta thường hay nói: “Không đọc, không biết truyện Kiều, th́ không phải là người Việt Nam”. Quả thật, chẳng hề sai, v́ dân ta,  ngay những người ở thôn quê ít học, nhưng họ cũng đă thuộc ḷng những câu thơ Kiều, và đă tự “phổ” ra thành nhiều “bài hát” khác nhau. Họ ru con bằng thơ Kiều, tỏ t́nh với nhau bằng thơ Kiều, viết thư t́nh, thề non hẹn biển cũng kèm mấy câu thơ Kiều:

 

“Một lời đă trót thâm giao

 Dưới giày có đất trên cao có Trời.

Dẫu rằng vật đổi sao dời,

Tử sinh cũng giữ lấy lời tử sinh”.

 

Các bà khi ghen theo kiểu Hoạn Thư, cũng biện minh bằng thơ Kiều: “Ghen tuông th́ cũng người ta thường t́nh... Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai”. Lấy vợ bé như  các chàng Thúc Sinh tân thời, lúc “một tỉnh mười mê”, th́ cứ “bốc”: “Đường xa chớ ngại Ngô, Lào, Trăm điều hăy cứ trông vào một ta”; nhưng đến khi quá sợ vợ, phải chia tay với người t́nh, cũng dùng đến “món vũ khí”  thơ Kiều: “Tơ duyên ta có ngần này mà thôi...”

 

Nhưng đó là những chuyện “tân Kim - Kiều” , c̣n bây giờ, người viết xin trở lại với đề tài chính của bài này, đó là anh hùng Từ Hải; song trước khi “luận anh hùng”, th́  bắt buộc người viết phải nói đến những câu thơ trong đoạn đầu của truyện Kiều, đặc biệt là câu thứ 09 - 10 như sau:

 

“Rằng: năm Gia-Tĩnh triều Minh,

Bốn phương phẳng-lặng, hai kinh vững-vàng”.

 

Hai câu thơ trên, đă cho thấy ngay vào thời điểm ấy, là một thời thái b́nh, thịnh trị, chứ không phải là lúc có giặc giă, chiến tranh.

 

Như vậy, th́ tại sao đang sống giữa cảnh: “Bốn phương phẳng- lặng, hai kinh vững -vàng”, mà Từ Hải lại dấy binh, khởi loạn, và lập nên một “Triều đ́nh riêng một góc trời” và có trong tay với “…muôn binh, ngàn tướng…  mười vạn tinh binh, Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường:

 

“Triều-đ́nh riêng một góc trời,

Gồm hai văn-vơ, rạch đôi sơn-hà.

Đ̣i phen gió quét mưa sa,

Huyện thành đạp đổ năm ṭa cơi Nam “.

 

Với bốn câu thơ này, th́ thử hỏi, ngay vào đầu thế kỷ 21, tất cả những quốc gia theo thể chế dân chủ pháp trị ở khắp năm châu trên quả địa cầu này, mà nếu có một “anh hùng Từ Hải” nào đó, dám ngang nhiên khởi loạn “Huyện thành đạp đổ năm ṭa cơi Nam”, để thành lập “Triều-đ́nh riêng một góc trời, Gồm hai văn-vơ rạch đôi sơn-hà”, th́ có lẽ ai cũng có thể trả lời: dù là ở bất cứ một quốc gia nào ở trên thế giới, cũng đều phải có những biện pháp hữu hiệu nhất, để tiêu trừ  ngay lúc mới phát hiện ra những mưu đồ phản loạn từ trong trứng nước, chứ không bao giờ để cho những cái “trứng” này sẽ nở ra thêm tới “mười vạn tinh-binh…”. Nhưng thôi, v́ người viết đă “phi lạc “ sang chuyện “kim” mất rồi, nên phải quay trở về với chuyện “cổ” của “năm Gia Tĩnh triều Minh, Bốn phương phặng-lặng hai kinh vững-vàng”; là thời của “trung quân ái quốc” hoặc “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”. Như thế, mà “Triều Minh” đă quá “nhân đạo” đến mức độ đă để choTừ Hải ngang nhiên chiêu mộ binh mă có tới “…muôn binh ngàn tướng…Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường”, th́ quả là một vị “thánh đế” như cụ Nguyễn Du đă viết: “B́nh-thành công đức… tưới ra đă khắp, thấm vào đă sâu” vậy.

 

Nhưng Từ Hải có thật là một anh hùng trong mắt, trong tâm tư của mọi người hay không? Thực ra, câu trả lời này, không ở đâu xa, mà đă có, mà cũng của chính cụ Nguyễn Du qua những lời của Thúy Kiều như sau:

 

“Rằng: Trong Thánh-trạch dồi-dào,

Tưới ra đă khắp, thấm vào đă sâu,

B́nh-thành công-đức bấy lâu,

Ai ai cũng đội trên đầu xiết bao,

Ngẫm từ dấy việc binh đao,

Đống xương Vô-định đă cao bằng đầu,

Làm chi để tiếng về sau,

Ngh́n năm ai có khen đâu Hoàng sào?”.

 

Tám câu thơ trên, là của cụ Nguyễn du đă cho phép Thúy Kiều được nói thẳng ra rằng:

 

“Thánh trạch” là một ông “vua thánh , thánh đế” - ông vua hiền đức, chứ không phải là hôn quân, bạo chúa.

 

“B́nh-thành công-đức bấy lâu”: “b́nh thiên thành địa”; là nói đến một nhà vua có công đức lớn; một thời thái b́nh thịnh trị, người người ấm no, hạnh phúc.

 

“Ai ai cũng đội trên đầu xiết bao”, Ai ai, bá tánh đều biết ơn, quá nhiều, không biết bao nhiêu mà kể. Thế nhưng, trong lúc ấy, th́ Từ Hải  chỉ v́ tham vọng riêng, nên đă chiêu binh khởi loạn; “rạch đôi sơn hà - triều đ́nh riêng một góc trời”,chính Thúy Kiều đă “luận tội” của Từ Hải:

 

“Ngẫm từ dấy việc binh đao,

Đống xương Vô-định đă cao bằng đầu”.

 

Như vậy, Thúy Kiều đă cho biết, kể từ khi Từ Hải chiêu mộ binh mă, khởi loạn, nổi dậy (dấy), th́ “Đống xương Vô-định đă cao bằng đầu!”.

 

Vô-định, là con sông ở tỉnh Tuy Viễn, Thiểm Tây, Trung quốc, v́ đă từng qua những cuộc binh đao giữa người Hán và Hung nô, và thường xuyên bị bồi, lỡ, nên đă được gọi là “Vô- định hà” (sông Không nhất định), mà hai câu thơ của Trần Đào thời Đường đă mô tả:

 

“Khả lân Vô-định hà biên cốt,  

Do thị khuê trung mộng lư nhân”.

 

Hai câu thơ của Trần Đào, có ư xót thương cho đống xương bên “Vô-định hà biên cốt”, là chỉ những người đă chết trong những cuộc đao binh, ở đây Thúy Kiều đă cho biết kể từ lúc Từ Hải khởi loạn: “Ngẫm từ dấy việc binh đao”, th́ “Đống xương Vô-định đă cao bằng đầu”. Nghĩa là Từ Hải đă giết vô số người giữa thời thái b́nh, không có chiến tranh, lại c̣n có một ông vua hiền, công đức “thánh đế”: “B́nh thành công đức... ai ai cũng đội trên đầu xiết bao”; bởi vậy, nên “Bốn phương phẳng-lặng hai kinh vững-vàng”.  V́ thế,  tội của Từ Hải chắc chắn cũng phải chất cao bằng “Đống xương Vô-định!”.

 

“Làm chi để tiếng về sau,

Ngh́n năm ai có khen đâu Hoàng Sào?”.

 

Hai câu này, ư của Thúy Kiều nói: giữa lúc thái b́nh, Bốn phương phẳng-lặng hai-kinh vững vàng”, th́ Từ Hải làm chi, gây chi những cuộc binh đao, khiến cho quá nhiều người phải chết oan uổng, để rồi: “Ngh́n năm ai có khen đâu Hoàng sào?”.

 

Hoàng Sào là một kẻ cầm đầu cuộc khởi loạn vào cuối đời Đường, kiểu như Từ Hải, cũng xưng Vương, tung hoành một cơi. Nhưng Thúy Kiều chỉ xem Hoàng Sào là thảo khấu, và cũng ví Từ Hải giống như Hoàng Sào, chứ không phải là anh hùng, v́ đang sống giữa thời “Bốn phương phặng-lặng, hai kinh vững-vàng” với một vị minh quân: “Rằng: Trong thánh trạch dồi dào, Tưới ra đă khắp, thấm vào đă sâu”. Có lẽ v́ thế, nên Thúy Kiều đă chê trách những hành vi khởi loạn, như những kiều ly khai, chiếm cứ lănh thổ của của quốc gia, để rồi: “Triều đ́nh riêng một góc trời, Gồm hai văn vơ rạch đôi sơn hà”. Bởi như vậy, là phải mang trọng tội, là đáng phải chịu những h́nh phạt cao nhất dành cho những kẻ phạm tội khởi loạn, phản quốc!

 

Chuyện của anh hùng Từ Hải là như thế; nhưng các “đấng tu mi nam tử” của người Việt chúng ta đă và đang có vô số người luôn tự xem ḿnh là:

 

“Đường-đường một đấng anh-hào,

Côn-quyền hơn sức, lược-thao gồm tài”.

 

Hai câu thơ trên, đă mô tả Từ Hải, là một con người Tài giỏi, tam lược lục thao. Nhưng tiếc rằng, Từ Hải đă không đem cái tài thao lược của ḿnh để góp phần bảo vệ biên cương, đất nước, một đất nước đang: “Bốn phương phẳng-lặng, hai kinh vững vàng” chứ không có chiến tranh, mà đă “dấy việc binh đao”, để rồi khiến cho “Đống xương vô-định đă cao bằng đầu!”.

 

“Một đấng anh hào”, chỉ đáng được trân trọng, nếu đem tài sức và cả sinh mạng của ḿnh để đối đầu với quân giặc, kể cả việc đối đầu với một bạo chúa, một triều đ́nh bù nh́n, thối nát, một chế độ phi nhân, để cứu lấy muôn dân, c̣n những hành vi khởi loạn giữa lúc thái b́nh, th́ chỉ là những kẻ phản loạn, không có một “triều đ́nh” nào dung thứ, và ngay cả các quốc gia dân chủ, tự do trên thế giới ngày nay, th́ những kẻ ấy, cũng đều phải bị luật pháp nghiêm minh kết tội “diệt chủng - giết người hàng loạt” với bằng chứng là “Đống xương Vô-định đă cao bằng đầu!”.

 

Chính v́ thế, nên một sinh mạng của Từ Hải, không làm sao đền bù được với vô số người đă bị Từ Hải giết chết, mà chính cụ Nguyễn Du đă ví bằng “Đống xương Vô-định… trong suốt thời gian “Năm năm hùng cứ một phương hải-tần”.

 

 

Từ Hải đầu hàng:

 

Đọc hết truyện Kiều, người ta đều thấy Từ Hải luôn tự xưng tụng ḿnh là “anh hùng”; nhưng không hề thấy Từ Hải nói đến ḷng yêu nước, thương dân. Điều này không lạ; v́ nếu yêu nước, th́ Từ Hải không dấy binh, khởi loạn, ly khai, chiếm cứ lănh thổ của triều đ́nh, tức của quốc gia, để làm vua một cơi, để được hưởng thụ riêng ḿnh. Từ Hải cũng không hề thương dân, v́ nếu thương dân th́ Từ Hải đă không giết chết quá nhiều người đến mức độ “Đống xương Vô-định đă cao bằng đầu”.

 

Đến đây, thiết tưởng chúng ta nên hiểu thêm, trong số “muôn binh ngh́n tướng” dưới trướng của Từ Hải, nhưng không chắc là họ đă thực sự muốn theo Từ Hải, mà có thể họ là những người đă nằm trong “… năm ṭa cơi Nam” đă bị Từ Hải “đạp đổ”; v́ thế, nên họ đành phải theo hầu Từ Hải, như Từ Hải đă nói: “Trước cờ ai dám tranh cường”.  Và, khi Thúy Kiều nói đến “Đống xương Vô-định…”, mà Từ Hải cũng không hề có một lời, để gọi là tỏ ḷng thương xót. Nói tóm lại, là chỉ v́ nghe lời của Thúy Kiều nên Từ Hải chấp nhận đầu hàng. Vậy, chúng ta hăy nghe những lời của Thúy Kiều:

 

“Sao bằng lộc trọng quyền cao?

Công-danh ai dắt lối nào cho qua?

Nghe lời nàng nói mặn mà,

Thế công, Từ mới trở ra thế hàng”.

 

Th́ ra, Từ Hải chỉ v́ nghe nói đến “lộc trọng quyền cao” “công-danh” mà liền đổi “thế công ra thế hàng”, chứ không phải v́ muốn đem tài sức của ḿnh để phụng sự quốc dân. Nghĩa là Từ Hải tin là ḿnh sẽ được trọng dụng như một quan lớn nào đó của triều đ́nh, bên cạnh có Thúy Kiều, nên Từ Hải đă quên hết, và đành đoạn bỏ rơi, không cần biết đến cuộc sống và cả sinh mạng của “mười vạn tinh binh”  của một thời họ đă tin theo Từ Hải trong suốt thời gian “Năm năm hùng cứ một phương hải-tần”, để chỉ c̣n có một nàng Kiều cùng với “công danh- lộc trọng quyền cao”. Và đó, là tấm gương dành cho những ai tin theo những lời đường mật của những “lănh tụ” , để chiêu binh, khởi loạn, ly khai, chiếm cứ lănh thổ quốc gia, giữa lúc thái b́nh: “Bốn phương phẳng-lặng, hai kinh vững-vàng” với mục đích để được hưởng “lộc trọng quyền cao” chứ chẳng phải v́ một lư tưởng cao đẹp nào cả.

 

Nói tóm lại, Từ Hải khởi loạn “Triều đ́nh riêng một góc trời, Gồm hai văn vơ rạch đôi sơn hà” trong lúc đất nước thái b́nh, để đạt mục đích riêng, là một hành vi phản loạn; và khi quyết định đầu hàng, th́ cũng v́ một mục đích riêng cho bản thân. Ngoài những lẽ ấy, Từ Hải không phải là một kẻ “lược thao gồm tài”. Bởi nếu là một người có đủ mưu trí, th́ không bao giờ dại dột mà vội vàng giải giới hết binh mă, chỉ c̣n trơ trọi có một ḿnh, để rồi phải “chết đứng” về tay của Hồ Tôn Hiến. Và đó là số phận của những kẻ phản loạn. Từ Hải không xứng đáng để được tiếc thương, v́ nếu có, th́ nên tiếc thương cho những người đă chết dưới tay của Từ Hải, mà chính cụ Nguyễn du đă ví như: “Đống xương Vô-định đă cao bằng đầu!”

 

 

Hồ Tôn Hiến giết chết Từ Hải:

 

Hồ Tôn Hiến là một quan đại thần, đă phụng mạng của triều đ́nh đi gặp Từ Hải; nhưng không ai biết Hồ Tôn Hiến có được nhà vua ban cho “thượng phương bảo kiếm” để được trọn quyền “tiền trảm hậu tấu” hay không. Nhưng nếu đặt vào địa vị của Hồ Tôn Hiến, th́ có lẽ ít có người hành động khác hơn. Bởi v́, giữa lúc “Bốn phương phẳng-lặng, hai kinh vững-vàng” mà Từ Hải không đem tài sức của ḿnh để phụng sự đất nước, mà lại gây nên những cuộc binh đao, giết chết quá nhiều người, khiến cho “Đống xương Vô-định đă cao bằng đầu”, đă chiếm cứ lănh thổ, xưng vương, lập nên “Triều đ́nh riêng một góc trời”. Vậy th́ thử hỏi, trong lúc đất nước thái b́nh thịnh trị, mà Từ Hải đă gây nên những cuộc binh biến, kinh thiên, động địa như thế, th́ liệu khi về với triều đ́nh, được “lộc trọng quyền cao” rồi, mà nếu có một điều ǵ bất b́nh với triều đ́nh, th́  Từ Hải có “rạch đôi sơn hà” một lần nữa hay không???

 

Câu trả lời là: Không ai có thể tin được những kẻ đă từng gây ra những cuộc phản loạn như thế, mà cần phải tiêu trừ tất cả những mầm mống khởi loạn ngay từ trong trứng nước, để tránh những hậu họa cho đất nước, và để không cho “Đống xương Vô-định” được chất cao hơn “bằng đầu” một lần nào nữa!

 

 

Thúy Kiều khuyên Từ Hải đầu hàng:

 

Là người Việt Nam, ít ai không biết, không đọc truyện Kiều. Do đó, ai cũng biết Thúy Kiều với nhan sắc “khuynh quốc khuynh thành” có tài “cầm kỳ thi họa”. Nhưng, Thúy Kiều không có lư tưởng, mà cũng chỉ là “nhi nữ thường t́nh”. V́ thế, nên Thúy Kiều chỉ thấy những sự ǵ có lợi trước mắt:

 

Và một trong những cái lợi trước mắt chính là “của lễ” do Hồ Tôn Hiến đă “dâng tặng” Thúy Kiều:

 

“Đóng quân làm chước chiêu an,

Ngọc vàng gấm vóc, sai quan thuyết hàng.

Lại thêm một lễ với nàng,

Hai tên thể nữ, ngọc vàng ngh́n cân”.

 

Chỉ chừng ấy thôi,  đă cho ta thấy rằng: Thúy Kiều đă không đắn đo, ngần ngại,  mà nhận ngay những “của lễ” do Hồ Tôn Hiến “dâng tặng”.  Điều ấy, cũng đă cho ta thấy được bản tánh của Thúy Kiều, khi đă nhận hết cả số “Ngọc vàng ngh́n cân…” , để rồi chính Thúy Kiều đă “thuyết hàng” Từ Hải, chứ chẳng phải ai khác. Vậy, ta hăy nghe những lời của Thúy Kiều một lần nữa:

 

“Sao bằng lộc trọng quyền cao?

Công-danh ai dắt lối nào cho qua?

….

Bằng nay chịu tiếng vương-thần,

Thênh-thênh đường cái thanh vân hẹp ǵ!

….

Cũng ngôi mệnh phụ đường-đường,

Nở-nang mày mặt, rỡ-ràng mẹ cha”.

 

Sáu câu thơ trên, đă cho thấy, Thúy Kiều trước hết đă nghĩ đến chính ḿnh: “Công danh - lộc trọng quyền cao -Thênh-thênh đường cái thanh vân hẹp ǵ!… Cũng ngôi mệnh phụ đường-đường, Nở nang mày mặt, rỡ-ràng mẹ cha”. Nghĩa là, trước hết, Thúy Kiều đă nghĩ đến bản thân của ḿnh, cũng như Từ Hải, cả hai đă không hề nhắc đến số phận của “mười vạn tinh binh” đă tin theo Từ Hải trong suốt “Năm năm hùng cứ một phương hải-tần”. Họ đă từng vào sinh ra tử dưới “lá cờ” của Từ Hải “bóng tinh rợp đường”. Thế nhưng, Từ Hải đă vô tâm và tàn nhẫn khi bỏ rơi họ, mặc cho họ có bị tù đày hay phải bị giết chết, chỉ v́ sự đầu hàng một cách ngu xuẩn của Từ Hải, để rồi  khiến cho họ phải trở thành những hàng binh bi thảm nhất!!!

 

 

Thúy Kiều khóc Từ Hải:

 

Sau khi Từ Hải đă “chết đứng” rồi, mà trước mặt Hồ Tôn Hiến, Thúy Kiều c̣n kể lể:

 

“Ngỡ là phu quư phụ vinh,

Ai ngờ một phút tan- tành thịt xương”.

 

Qua hai câu thơ này, đă cho thấy thêm, mặc dù Từ Hải đă chết, nhưng Thúy Kiều vẫn khẳng định rằng ḿnh “Ngỡ rằng phu quư phụ vinh”. Nghĩa là lúc nào Thúy Kiều cũng nghĩ đến: “Công danh - Lộc trọng quyền cao - Phu quư phụ vinh” cả.

 

Và đó, cũng là tấm gương do chính Thi hào Nguyễn Du đă dựng nên, để dành cho tất cả những “đấng tu mi nam tử” rằng: một khi đă chọn những người phụ nữ có nhan sắc, nhưng không có lư tưởng; những phụ nữ này, cũng chẳng khác nàng Kiều, họ chỉ biết nghĩ đến những sự ǵ có lợi cho riêng họ, để rồi nếu chồng ra làm quan, th́ dù có muốn thanh liêm cũng khó, v́ các bà vợ loại này luôn sẵn sàng đưa tay ra để nhận những món “vi thiềng”, mà đôi khi có thể nhận luôn “của lễ” của kẻ giặc, như Thúy Kiều đă nhận hết cả số “gấm vóc, ngọc vàng ngh́n cân” do Hồ Tôn Hiến “dâng tặng” vậy.

 

Và v́ chính những lẽ ấy, nên nếu là những người đă quyết liệt dấn thân vào con đường tranh đấu cho lư tưởng cao đẹp, th́ cần phải biết, những “mẫu” người phụ nữ này, không bao giờ là một cánh tay đắc lực ở bên cạnh chồng trong những cảnh ngộ bất trắc, nguy nan để vượt qua những thử thách cam go nhất của cuộc chiến hay cuộc đời. Và biết đâu, lỡ có một ngày phải lâm vào cảnh tù đày tới cả chục năm, hay hơn thế nữa, hoặc phải sống trong nghèo khổ, th́ những “nữ nhi thường t́nh” ấy, sẽ không ngại ngần khi ôm cầm sang thuyền khác!

 

Tuy nhiên, không phải chỉ có những phụ nữ kém nhan sắc mới có lư tưởng, hay tất cả những người phụ nữ có nhan sắc là đều không có lư tưởng. Nhưng nếu có được một người vợ vừa có nhan sắc lại biết sống cho lư tưởng, th́ đó là một ân sủng mà Trời đă ban cho. Song dù có nhan sắc hay không, th́ điều đáng được trân quư, là cn có lư tưởng, v́ những người phụ nữ ấy, một khi họ đă gặp được một người đồng chí hướng, có cùng một lập trường bất biến, mà họ đă thật ḷng yêu thương, và tự nguyện làm vợ, chứ không phải v́ một lư do nào khác, th́ chắc chắn họ sẽ sống và chết cùng người chồng mà họ đă hết ḷng yêu thương và kính trọng. Họ không bao giờ khuyên chồng của ḿnh phải đầu hàng kẻ thù chung. Họ là những người lính cảm tử, “gươm súng” bên chồng. Suốt cả cuộc đời, họ luôn sẵn sàng sống và chết v́ lư tưởng cao đẹp:  Họ đặt Tổ Quốc và Dân Tộc lên trên hết!

 

 

Paris, 8/2/2013

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính