"Kiến Nghị"Của Những Kẻ "Trí Thức" Đă Và Đang Tha Phương Cầu Thực Tại Hải Ngoại

 

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

 

 

 

 

Người viết vừa đọc  được cái gọi là "Kiến nghị - Thư ngỏ" của những "trí thức" tại hải ngoại, mà những kẻ này đă "Kính gửi" cho cái "chính phủ nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam".

 

Ngay những ḍng đầu tiên, những kẻ này đă minh định ngay chỗ đứng của ḿnh như sau:

 

"Chúng tôi một số trí thức sinh sống tại nước ngoài…"

 

Nghĩa là, tất cả những kẻ này, họ đều là những người "sinh sống tại nước ngoài". V́ thế, tuyệt nhiên, họ không phải là người tỵ nạn chính trị, tỵ nạn cộng sản; bởi bất cứ một người nào, một khi đă bỏ nước ra đi, nhưng không nằm trong diện tỵ nạn chính trị, tỵ nạn cộng sản, th́ tất nhiên hết thảy họ đều là những kẻ Tha Phương Cầu Thực, nghĩa là đi đến vùng đất khác để t́m việc làm, để kiếm ăn; tương tự như những người dân ở trên các Buôn - các Bản ở  trên các vùng Thượng Du của nước Việt, những sắc dân này, v́ miếng cơm manh áo, nên họ phải t́m nhiều cách để đến các vùng đất mới để du canh - du cư, để t́m lấy cái ăn.

 

Chính v́ lẽ đó, nên tiếng nói của những kẻ đă tự nhận ḿnh là "trí thức" này, chỉ là những tiếng kêu của những người đang "sinh sống tại nước ngoài", nên không phải là tiếng nói chung của cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại.

 

Những kẻ này, đă: "ủng hộ đồng thời hưởng ứng với bản Kiến nghị ngày 10-7-2011 của 20 nhân sĩ trí thức" cộng sản ở trong nước, th́ đă quá rơ ràng là đồng ác tương cứu rồi, chẳng c̣n điều ǵ để phải nói thêm.

 

Tuy nhiên, một điều mà người viết nghĩ rằng, khó chấp nhận được: Những kẻ này có quyền xác định chỗ đứng của ḿnh, nhưng không được nói thay cho tất cả những người Việt tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại, qua những lời như sau:

"Do biến chuyển thời cuộc, hiện có hơn 3 triệu người gốc Việt sinh sống tại nước ngoài".

 

Người viết không thể lên tiếng chung . Nhưng người viết chỉ muốn nói thẳng với những kẻ "trí thức" đă đứng tên trong "Kiến nghị - Thư ngỏ" này rằng:

KHÔNG phải  "do biến chuyển của thời cuộc", mà là do đảng cộng sản Hà Nội đă xua quân xâm lăng nước Việt Nam Cộng Ḥa từ đầu thập niên 1960, và đă bất chấp Hiệp định Paris năm 1973, xua quân cưỡng chiếm nước Việt Nam Cộng Ḥa vào ngày 30-4-1975.

 

Chính ngày này, tất cả những công dân của nước Việt Nam Cộng Ḥa đă phải chịu mất nước.

 

Chính ngày này, với bao nhiêu sinh mạng của những người vô tội đă phải bỏ ḿnh trong các nhà tù "cải tạo"- trên các vùng "kinh tế mới" trên ngàn dưới biển trên con đường chạy trốn cộng sản, và biết bao nhiêu sinh linh của những bé thơ đă phải chết một cách tức tưởi, đau thương dưới những bàn tay man rợ của những tên hải tặc, đă làm mồi cho cá giữa ḷng đại dương lạnh lẽo ??? !!!

 

Và chính v́ thế, nên đa số người Việt Nam đă phải nuốt nước mắt, rời Quê Hương, để ra đi t́m tự do. Họ là những người tỵ nạn cộng sản, chứ không phải: "Do biến chuyển của thời cuộc".

 

Rồi những kẻ "trí thức" này c̣n viết:

 

"Chúng tôi hi vọng quư vị lănh đạo tiếp thu đóng góp quan trọng ấy, và sớm thiết lập một lộ tŕnh cải cách cụ thể, để được nhân dân tin tưởng và ủng hộ".

 

Th́ ra, những kẻ này lo sợ nhân dân không tin tưởng và không ủng hộ, th́ chế độ cộng sản phải sụp đổ.

 

Người viết cũng nghĩ rằng, cho dù là cộng sản có sụp đổ, hay Quốc Gia có hưng thịnh, th́ đâu có dính dáng, đâu có tổn hại ǵ cho những kẻ tha phương cầu thực, v́ miễn sao họ được no cơm, ấm áo là sung sướng lắm rồi mà.

 

Song chưa hết, những kẻ này cũng đă viết:

 

"Cần nhấn mạnh truyền thống hiếu ḥa của Việt Nam với nhân dân Trung quốc. Đặc biệt là trí thức tiến bộ, để tranh thủ sự ủng hộ của họ trong việc cùng đấu tranh cho công bằng và quan hệ b́nh đẳng giữa hai nước".

 

Ôi! Sao lại có thể "trí thức" đến một mức độ như thế ?

 

Nên nhớ và nên biết: Bất kể là thằng Tầu nào, dù "trí thức" hay không, cả lũ giặc Tầu chúng đều giống nhau hết. Và từ ngàn xưa, bọn giặc Tầu đă từng gọi người dân Việt là "Man di" là "Nam man",th́ làm ǵ có chuyện "b́nh đẳng giữa hai nước"; bởi chúng chỉ muốn biến đất nước Việt Nam trở thành một Tân Cương, một Tây Tạng mà thôi.

 

Như vậy, xem ra, các người c̣n thua xa những đứa trẻ chăn trâu thất học, mà ngày xưa khi c̣n ở tại quê nhà, người viết vẫn thường nghe thấy, khi ngồi trên lưng trâu các em đă hát:

 

"Cái mặt thằng Tầu, thằng nào cũng như thằng nấy, thằng nào cũng dơ dáy, đuổi hết chúng nó đi về Tầu".

 

Hỡi những kẻ "trí thức", hăy lắng nghe và hăy học lấy những lời của các em mục đồng này, v́ dù thất học, ngồi trên lưng trâu, song các em đă ư thức được rằng: "Cái mặt thằng Tầu, thằng nào cũng như thằng nấy, thằng nào cũng dơ dáy" chỉ có một cách duy nhất là "phải đuổi hết chúng nó đi về Tầu".

 

Nhưng rồi, "nói gần nó xa chẳng qua nói thiệt", v́ cuối cùng rồi cũng phải "ngôn" ra cái điểm chính, nên những kẻ "trí thức" này đă viết:

 

"Đây là bước cần thiết bắt đầu một quá tŕnh nghiêm túc thực hiện ḥa giải và ḥa hợp dân tộc".

 

Dân tộc Việt Nam làm ǵ có chuyện bất ḥa - bất hợp, mà phải "ḥa giải và ḥa hợp dân tộc". Chỉ có đảng cộng sản Hà Nội và tất cả những người Việt Nam yêu nước chân chính là chưa bao giờ, và không bao giờ ḥa hợp với nhau được. Bởi thế, nên cho dù công khai hay tiềm ẩn, trừ một thiểu số đảng viên cộng sản trung thành , c̣n tất cả nhân dân Việt Nam, không bao giờ chấp nhận ḥa hợp ḥa giải với đảng cộng sản. Riêng những kẻ "trí thức" này, muốn lạy lục cộng sản để xin "thay đổi hiến pháp", muốn làm tay sai, muốn xin một chiếc ghế, th́ cứ tự nhiên; nhưng không được nhân danh: "3 triệu người Việt sinh sống tại hải ngoại" để xin xôi, xin thịt.

 

Và cuối cùng, người viết cũng xin chúc cho những kẻ "trí thức" này; đặc biệt, là những "trí thức" đă trên dưới bảy- tám chục tuổi, "thọ" cho đến một ngày sẽ được đưa hai tay ra mà run run sờ vào đĩa xôi, đĩa thịt… cộng sản.

 

 

Pháp quốc, ngày 1/9/2011

 

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

----------------------------------------------------------

 

* Lưu ư: Tất cả những bài viết của tác giả Hàn Giang Trần Lệ Tuyền, nếu quư vị nào muốn tiếp tay chuyển tiếp lên các Diễn Đàn Điện Tử, các trang Web trên mạng lưới toàn cầu th́ không có điều ǵ trở ngại, chúng tôi chân thành cám ơn.

 

Tuy nhiên, nếu quư vị nào muốn in vào sách, báo có tính cách thương mại, xin vui ḷng liên lạc để có sự đồng ư của tác giả trước, qua địa chỉ email: hangiangletuyen@gmail.com .

 

---------------------------------------

 

Trí thức hải ngoại kiến nghị với chính phủ

 

 

VỀ HIỂM HOẠ NGOẠI BANG VÀ SỨC MẠNH DÂN TỘC

 

 

Kính gửi:

 

Chủ tịch nước Cộng ḥa Xă hội Chủ nghĩa Việt Nam

Chủ tịch và Quốc hội nước Cộng hoà Xă hội Chủ nghĩa Việt Nam

Chánh án Toà án Nhân dân Tối cao nước Cộng hoà Xă hội Chủ nghĩa Việt Nam

Thủ tướng và Chính phủ nước Cộng ḥa Xă hội Chủ nghĩa Việt Nam

Tổng Bí thư và Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam

 

Thưa quư vị,

 

Chúng tôi, một số trí thức sinh sống tại nước ngoài, gửi đến quư vị lá thư ngỏ này để phát biểu những suy nghĩ thẳng thắn và xây dựng trước t́nh h́nh nghiêm trọng của Việt Nam hiện nay.

 

Trước hết, chúng tôi muốn bày tỏ sự ủng hộ bản “Tuyên cáo” ngày 25 tháng 6, 2011 của 95 nhân sĩ, trí thức, tố cáo và lên án nhà cầm quyền Trung Quốc liên tục gây hấn, xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lănh thổ của Việt Nam. Chúng tôi đồng thời hưởng ứng bản “Kiến nghị” ngày 10 tháng 7, 2011 của 20 nhân sĩ, trí thức, kêu gọi Quốc hội và Bộ Chính trị công khai hoá thực trạng quan hệ Việt-Trung, nhấn mạnh vào nhu cầu đổi mới hệ thống chính trị, tôn trọng các quyền tự do, dân chủ của nhân dân để có thể thực hiện thành công nhiệm vụ bảo vệ và phát triển đất nước.

 

Cả hai bản Tuyên cáo và Kiến nghị đại diện những tiếng nói can đảm, trung thực của giới trí thức yêu nước mà chúng tôi có cơ hội tiếp xúc, trực tiếp hay gián tiếp, trong nhiều năm qua. Dù xa quê hương đă lâu, dù c̣n mang quốc tịch Việt Nam hay đă trở thành công dân nước ngoài, chúng tôi vẫn luôn quan tâm đến các khó khăn và thuận lợi của đất nước. Do đó chúng tôi ủng hộ những ư kiến chính đáng của nhân sĩ, trí thức trong nước và chỉ tŕnh bày ngắn gọn một số nhận định bổ túc sau đây.

 

Hiểm hoạ ngoại bang

 

Sau chiến tranh biên giới cực Bắc năm 1979, nguồn tư liệu do Nhà nước bạch hoá về quan hệ Việt-Trung cho thấy mối quan hệ giữa hai nước không tốt đẹp như nhiều người lầm tưởng. Do hơn 30% dân số Việt Nam hiện sử dụng internet, thông tin ngày nay không c̣n là độc quyền của riêng ai. Kết hợp các nguồn tư liệu khác nhau cũng cho thấy rằng đối với Trung Quốc, “Việt Nam là một đối tượng quan trọng cần khuất phục và thôn tính” (“Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua”, nxb Sự thật, 1979, trang 8).

 

Quan điểm trên được thể hiện rơ nét qua một chiến lược nhất quán của Trung Quốc trong gần 60 năm nay tuy chiến thuật tùy lúc, tùy thời có khác nhau: phản bội Việt Nam ở Hội nghị Geneva năm 1954, ngăn cản Việt Nam thương lượng với Mỹ năm 1968, dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ Hoàng Sa năm 1974, phát động chiến tranh biên giới năm 1979, dùng vũ lực đánh chiếm một phần Trường Sa năm 1988; và sau khi quan hệ giữa hai nước đă b́nh thường hoá năm 1991, từng bước lũng đoạn kinh tế, thu vét tài nguyên, thực hiện mưu đồ đồng hoá, xâm phạm chủ quyền và đối xử tàn bạo đối với ngư dân Việt Nam trên Biển Đông.

 

Sức mạnh dân tộc

 

Việt Nam có lịch sử chống ngoại xâm, phần lớn là từ phương Bắc, trong nhiều thế kỷ. Việt Nam cũng có nhiều tài nguyên thiên nhiên, với non 20 triệu héc-ta rừng, và hơn 3.200km đường biển. Trong dân số gần 90 triệu, hơn 3 triệu người có tŕnh độ đại học trở lên. Do biến chuyển thời cuộc, hiện có hơn 3 triệu người gốc Việt sinh sống tại nước ngoài, trong đó có hơn 300.000 người có tŕnh độ đại học trở lên và nhiều người là chuyên gia, giáo sư ở những công ty, trường đại học hàng đầu của thế giới.

 

Vị thế chính quyền

 

Sau hơn 35 năm lănh đạo một đất nước thống nhất, các nhà cầm quyền chắc biết rơ hơn ai hết toan tính thâm độc của Trung Quốc và t́nh thế nguy nan của Việt Nam. Nhưng trong thời gian qua những chính sách và biện pháp đối nội và đối ngoại được thực thi đă tỏ ra lúng túng và mâu thuẫn, trái với sự mong đợi của toàn dân. T́nh trạng này hiển nhiên làm suy yếu sức mạnh dân tộc, đ̣i hỏi chính quyền cần phải có những thay đổi toàn diện về cơ chế và chính sách mới có thể bảo vệ được chủ quyền và phát triển đất nước.

 

Những việc cần làm

 

Khác với các cuộc xâm lăng trong quá khứ, Trung Quốc trong thế kỷ XXI có nhiều lư do cần thiết hơn và nhiều điều kiện thuận lợi hơn để “khuất phục và thôn tính” Việt Nam mà không cần sử dụng vũ khí hay tổn thất nhân mạng. Mặc dù yếu kém hơn Trung Quốc về kinh tế và quân sự, Việt Nam có một lợi thế lớn chưa từng có trong lịch sử: không một nước tự do, dân chủ nào muốn thấy một nước độc tài chuyên chế như Trung Quốc xâm phạm quyền lợi hay quyền tự quyết của một nước khác, đe dọa t́nh trạng ổn định trong khu vực và toàn cầu. Tuy nhiên, cũng sẽ không có quốc gia hay liên minh nào có thể hỗ trợ Việt Nam nếu, trước hết, chính phủ Việt Nam không chứng tỏ là có ư chí và khả năng bảo vệ dân tộc và đất nước của ḿnh.

 

Một lần nữa, chúng tôi khẳng định sự ủng hộ mạnh mẽ các ư kiến chính đáng vừa qua của nhân sĩ, trí thức trong nước. Chúng tôi hi vọng quư vị lănh đạo tiếp thu đóng góp quan trọng ấy và sớm thiết lập một lộ tŕnh cải cách cụ thể để được nhân dân tin tưởng và ủng hộ. Chúng tôi đề nghị những điểm chính dưới đây cần được chú trọng khi quyết định lộ tŕnh:

 

1- Đối với Trung Quốc: Cần xác định công khai và rơ ràng lập trường của Việt Nam đối với chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa-Biển Đông: mọi tranh chấp phải được giải quyết dựa trên luật pháp quốc tế và chứng cứ lịch sử. Cần xét lại toàn bộ quan hệ Việt-Trung và chỉnh sửa những quyết định sai lầm trước đây khiến Việt Nam mất cân bằng, lệ thuộc vào mối quan hệ này trên các lănh vực khác nhau. Cần nhấn mạnh truyền thống hiếu ḥa của Việt Nam với nhân dân Trung Quốc, đặc biệt là trí thức tiến bộ, để tranh thủ sự ủng hộ của họ trong việc cùng tranh đấu cho công bằng và quan hệ b́nh đẳng giữa hai nước.

 

2- Đối với ASEAN và các nước khác: Cần tiếp tục củng cố và phát triển quan hệ hợp tác với thành viên ASEAN cũng như những nước then chốt khác. Cần đồng thuận trong việc bác bỏ đ̣i hỏi trên 80% chủ quyền Biển Đông của Trung Quốc và trong lập trường đàm phán đa phương với Trung Quốc về Trường Sa. Cần tranh thủ sự ủng hộ của ASEAN và quốc tế cho một giải pháp về Hoàng Sa trên cơ sở luật pháp quốc tế và chứng cứ lịch sử. Cần thúc đẩy sự đồng thuận của ASEAN trong việc đổi tên Biển Đông thành Biển Đông Nam Á để góp phần vô hiệu hóa đ̣i hỏi chủ quyền phi lư của Trung Quốc, và để tránh ngộ nhận về các tên gọi khác nhau cho một vùng biển chung.

 

3. Đối với nhân dân trong nước: Cần sửa đổi Hiến pháp để đẩy mạnh quá tŕnh dân chủ hoá với ba cơ chế hoàn toàn độc lập: Quốc hội và cơ chế đại diện ở cấp thấp hơn, cơ chế toà án và cơ chế chính quyền. Cần thực hiện tự do bầu cử và ứng cử. Cần tôn trọng các quyền tự do công dân quy định bởi Hiến pháp Việt Nam và những công ước quốc tế mà Việt Nam cam kết tôn trọng, cụ thể như quyền tự do biểu t́nh và tự do phát biểu nhằm phản đối hành động hung hăn của Trung Quốc trên Biển Đông. Cần trả lại tự do cho những công dân bị giam giữ v́ tranh đấu ôn ḥa cho tự do, dân chủ, cho chủ quyền quốc gia, để đoàn kết toàn dân. Cần cải tổ hệ thống luật pháp, kinh tế, tài chính, giáo dục, y tế, v.v. để đẩy lùi tham nhũng, giảm thiểu bất công, gia tăng năng lực, bảo vệ tài nguyên. Cần tham khảo với những nhóm nghiên cứu độc lập (như Viện Nghiên cứu Phát triển IDS đă phải tự giải thể năm 2009) trong quá tŕnh h́nh thành các chính sách có tầm vóc quốc gia và quốc tế.

 

4. Đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài: Cần tạo bước đột phá để cải thiện sự hợp tác của cộng đồng vào công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước. Cần cho tái thiết Nghĩa trang Biên Hoà vô điều kiện, giúp đỡ chương tŕnh t́m kiếm hài cốt những người đă bỏ ḿnh trong trại tù cải tạo, không can thiệp vào việc xây dựng bia tưởng niệm thuyền nhân ở các nước Đông Nam Á. Đây là bước cần thiết bắt đầu một quá tŕnh nghiêm túc thực hiện hoà giải và hoà hợp dân tộc.

 

Mặc dù chính quyền kêu gọi trong nhiều năm, sự đóng góp về trí tuệ của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài vẫn quá nhỏ bé: số chuyên gia, trí thức hàng năm về nước “chuyển giao công nghệ” chỉ trong ṿng 500 lượt người trên con số hơn 300.000 trí thức.

 

Có hai nguyên nhân chính: (1) cơ chế chính quyền hiện hữu không những đánh mất niềm tin của người dân trong nước mà c̣n là cản trở lớn cho trí thức ở nước ngoài muốn đóng góp vào mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xă hội công bằng, dân chủ, văn minh” do chính Nhà nước đề ra;  (2) sự nghi ngờ, thiếu tin tưởng vào thiện chí của trí thức c̣n phổ biến trong một bộ phận không nhỏ của lănh đạo.

 

Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài c̣n có điều kiện nghiên cứu và vận động t́m kiếm những giải pháp thuận lợi cho Việt Nam, như tranh thủ sự ủng hộ của các chính phủ và dư luận quốc tế cho quan điểm của Việt Nam. Thực tế là một số chuyên gia trong và ngoài nước từng hợp tác với nhau trong các hoạt động theo chiều hướng này và công cuộc vận động đă đạt được một số kết quả tích cực về vấn đề Biển Đông và sông Mekong.

 

Trước chiến lược trước sau như một của Trung Quốc đối với Việt Nam và trước tham vọng bành trướng, bá quyền ngày càng lộ rơ của Trung Quốc, đất nước và nhân dân đ̣i hỏi quư vị phát huy sức mạnh dân tộc, đoàn kết toàn dân trong và ngoài nước trong giai đoạn cực kỳ hiểm nguy cho Việt Nam. Chúng tôi mong quư vị dũng cảm nắm lấy thời cơ duy nhất để thực hiện một cuộc cách mạng dân chủ toàn diện, xây dựng một chính quyền thực sự của dân, do dân và v́ dân, nhằm đưa Việt Nam lên vị thế xứng đáng với các nước trong khu vực và cộng đồng thế giới.

 

Trân trọng kính chào,

Ngày 21 tháng 8 năm 2011

 

Đồng kư tên:

 

01

Doăn Quốc Sỹ

  • Giáo sư
  • Nhà văn

Mỹ

02

Đinh Xuân Quân

  • Tiến sĩ Kinh tế
  • Chuyên gia Quốc tế về Phát triển

Mỹ

03

Đoàn Thanh Liêm

  • Luật sư

Mỹ

04

Hồ Bạch Thảo

  • Nhà giáo
  • Nhà Nghiên cứu Lịch sử

Mỹ

05

Lê Thanh Minh Châu

  • Phụ tá Phó Viện trưởng, Phụ trách Chương tŕnh Cao học Đại học Notre Dame,
    Indiana

Mỹ

06

Lê Xuân Khoa

  • nguyên Phó Viện trưởng Đại học Sài G̣n
  • nguyên Chủ tịch Trung tâm Tác vụ Đông Nam Á (SEARAC)

Mỹ

07

Lê Trọng Quát

  • Luật sư

Pháp

08

Nghiêm Phương Mai

  • Chuyên gia Sinh học Phân tử và Giáo dục

Canada

09

Ngô Đ́nh Long

  • nguyên Quản đốc Trung tâm Nghiên cứu Nguyên tử Đà Lạt
  • nguyên Phó Khoa trưởng Chính trị Kinh doanh Đại học Đà Lạt
  • Kỹ sư Nhóm Điều hành Ḷ Phản ứng Hạch tâm, Công ty Bechtel

Mỹ

10

Nguyễn Thế Anh

  • nguyên Giáo sư Đại học Văn khoa Sài G̣n
  • Giáo sư Ưu tú Ecole Pratique des Hautes Etudes, Paris-Sorbonne

Pháp

11

Nguyễn Quốc Dũng

  • Luật sư
  • Hội viên Luật sư Đoàn New York và Luật sư Đoàn Hoa Kỳ

Mỹ

12

Nguyễn Phạm Điền

  • Nhà Nghiên cứu Lịch sử

Úc

13

Nguyễn Thị Ngọc Giao (Genie Nguyễn)

  • Chủ tịch Hội Tiếng Nói Người Mỹ gốc Việt

Mỹ

14

Nguyễn Đức Hiệp

  • Tiến sĩ Khoa học Môi trường
  • Nhà Khoa học Khí quyển, Bộ Môi trường và Thay đổi Khí hậu, New South Wales

Úc

15

Nguyễn Ngọc Linh

  • nguyên Giáo sư Đại học Đà Lạt và Đại học Cửu Long

Mỹ

16

Nguyễn Phúc Quế

  • Bác sĩ

Pháp

17

Nguyễn Thái Sơn

  • Cố vấn Khoa học và Ngoại giao Viện Hàn lâm Địa Chính trị, Paris

Pháp

18

Nguyễn Hữu Xương

  • Giáo sư Hồi hưu Vật lư, Sinh vật, Hoá học và Sinh hoá, Đại học California, San Diego

Mỹ

19

Phạm Hồng Công

  • Dược sĩ

Canada

20

Phạm Phan Long

  • Kỹ sư Tư vấn

Mỹ

21

Phạm Xuân Yêm

  • Giám đốc Nghiên cứu, Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học (CNRS) và Đại học
    Paris-VI

Pháp

22

Phan Tấn Hải

  • Nhà Nghiên cứu Phật học
  • Nhà văn

Mỹ

23

Phùng Liên Đoàn

  • Tiến sĩ Vật lư Nguyên tử
  • Chủ tịch Trung tâm Khuyến khích Tự lập

Mỹ

24

Tạ Văn Tài

  • Luật sư Massachussets
  • nguyên Giáo sư các trường Luật Việt Nam
  • nguyên Giảng sư Luật, Đại học Harvard

Mỹ

25

Tăng Thị Thành Trai

  • Giáo sư Thực thụ Đại học Luật khoa, Đại học Notre Dame, Indiana

Mỹ

26

Thái Văn Cầu

  • Chuyên gia Khoa học Không gian

Mỹ

27

Thái Công Tụng

  • nguyên Giáo sư Đại học Nông Lâm Súc Sài G̣n
  • Chuyên gia Tư vấn Nông nghiệp của Canada tại Haiti, Nepal, và Phi châu

Canada

28

Trần Đ́nh Dũng

  • Kỹ sư Hoá học và Môi trường
  • Giám đốc Hội Sinh thái Việt

Mỹ

29

Triều Giang

  • Kư giả

Mỹ

30

Trịnh Hội

  • Luật sư

Mỹ

31

Trương Hữu Lương

  • Luật gia

Pháp

32

Trương Hồng Sơn (Trương Vũ)

  • Tiến sĩ Khoa học
  • nguyên Chuyên gia Hàng không Vũ trụ Quốc gia (NASA)

Mỹ

33

Trương Bổn Tài

  • Nhà văn, họa sĩ
  • Tiến sĩ Quản trị học
  • Giáo sư Đại học Phoenix, California

Mỹ

34

Vũ Giản

  • Chuyên gia Tài chính và Ngân hang
  • nguyên Tư vấn Trợ giúp Việt Nam của Bộ Kinh tế Thụy Sĩ

Thụy Sĩ

36

Vũ Quốc Thúc

  • nguyên Nghị viên Thành phố Hackney London
  • nguyên Giám đốc trường Luật, Đại học Hà Nội
  • nguyên Khoa trưởng Luật khoa, Đại học Sài G̣n
  • nguyên Giáo sư Luật khoa, Đại học Paris-XII

Pháp

Liên lạc điện thư: ThuNgo2108@gmail.com

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính