Huỳnh Ngọc Tuấn hay Vơ Văn Ái ?

 

 

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

 

 

Được ông Phan Nhân nhắc đến bài viết: “Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đồng hành với dân tộc” của Huỳnh Ngọc Tuấn, là cha ruột của Huỳnh Thục Vy; nên người viết đă t́m đọc thử cho biết. Đọc xong, người viết thấy tất cả nội dung, từ đầu cho đến cuối, không hề khác ǵ những bài viết, cũng như những lời “phát ngôn” của Vơ Văn Ái. Nó rập khuôn, giống nhau như một. Nó giống đến nỗi không c̣n phân biệt được là của Vơ Văn Ái hay là của Huỳnh Ngọc Tuấn đă viết, v́ cả hai Ái-Tuấn đều lộng ngôn, vọng ngữ như những trích đoạn sau đây:

 

1- “Giáo hội Phật giáo VN thống nhất ngày hôm nay là “đích tôn thừa trọng” của Phật giáo VN v́ là giáo hội được truyền thừa từ hàng ngàn năm trước của chư Tổ mà vị Tăng thống đầu tiên của giáo hội là ngài Khuôn Việt, tức thiền sư Ngô Chân Lưu thời Tiền Lê.

Giáo hội Phật giáo VN thống nhất là người kế thừa danh chánh ngôn thuận của Phật giáo VN, sự kế thừa này không những là sự chính danh của giáo hội mà c̣n v́ những đóng góp, những dấn thân cho dân tộc và đạo pháp bằng những mục tiêu và sách lược cụ thể của giáo hội”.

 

Đáng lẽ ra, người viết không cần phải viết bài này, cũng không cần phải nhắc đến cái tên Huỳnh Ngọc Tuấn. NHƯNG, v́ những lời viết rập khuôn như nhất của cả hai tên Ái-Tuấn đều như một, nên bắt buộc người viết phải lên tiếng để cho mọi người được biết đến những “thủ đoạn chính trị” những mưu kế, mà “khối Ấn Quang” đă và đang ra sức tận dụng, hầu để đạt được “cứu cánh”…

 

Những điều Huỳnh Ngọc Tuấn đă viết, là bản sao của Vơ Văn Ái, khiến cho người ta phải bịt mũi,v́ cả hai đều mắc chứng cuồng, nên mới dám lộng ngôn là:

 

“Giáo hội Phật giáo VN thống nhất ngày hôm nay là “đích tôn thừa trọng” của Phật giáo VN v́ là giáo hội được truyền thừa từ hàng ngàn năm trước”.

 

Nghĩa là, chỉ có Ấn Quang là có những ưu quyền tuyệt đối “đích tôn thừa trọng” của Phật giáo Việt nam truyền thừa từ hàng ngàn năm trước”; c̣n những người theo đạo Phật, nhưng không chịu làm tay sai cho Ấn Quang, th́ xem như “ngoại sổ”.

 

2- “Giáo hội Phật giáo VN thống nhất là linh hồn, là tinh hoa của Phật giáo VN được ǵn giữ và kế thừa cho đến hôm nay là ngọn đuốc soi đường cho Phật tử VN và là chỗ nương tựa và hội tụ của phật tử v́:

“Pháp lư của giáo hội là 2000 năm dựng văn mở đạo trên đất nước VN này, địa vị của giáo hội là 80% dân chúng, Cơ sở của Giáo hội là nông thôn, thành thị cao nguyên và hải đảo”.

 

Với câu những lời của Huỳnh Ngọc Tuấn đă viết ở trên; là của H.T Thích Huyền Quang đă đọc tang lễ của H.T. Thích Đôn Hậu, tức Diệp Trương Thuần, mà người viết đă vạch rơ qua bài: Tưởng niệm bốn mươi năm cuộc thảm sát Tết Mậu Thân: 1968-2008. Và nhân đây, người viết xin trích lại một đoạn của vị Thẩm phán Nguyễn Kim Khánh, tức tác giả Phan Thiết trong bài: “Thành quả hỗ tương: Ấn Quang-Cộng Sản” như sau:

 

“Người ta có thể tóm lược rất nhiều thành quả trong cuốn sách của cộng sản Việt Nam nhận cuộc đấu tranh của Phật giáo từ 1963 làm thành quả của “đảng ta”. Ví dụ, cuốn:

 

 “Phong Trào Tranh Đấu Chống Mỹ Của Giáo Chức, Học Sinh, Sinh Viên Sài G̣n” của Hồ Hữu Nhật do nhà xuất bản “thành phố Hồ Chí Minh” phát hành năm 1984:


“Dưới trào Ngô Đ́nh Diệm:


“Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất có hậu thuẫn vững chắc của nhiều tổ chức: Gia đ́nh Phật tử, Sinh viên Phật tử, Học sinh Phật tử, Thanh niên Phật tử. Năm 1962 gia đ́nh Phật tử tập hợp được 200 trăm ngàn người, năm 1964 có 400 ngàn . Đảng đă có cơ sở trong các tổ chức đó. Các chùa, trường Bồ Đề, Viện Hóa Đạo, trở thành trung tâm đấu tranh và phát xuất những cuộc mít tinh biểu t́nh chống ngụy quyền
(trang 88-89)”.


“Sau khi Diệm đổ:


“Cuộc đấu tranh chính trị sôi sục và quyền chủ động phần nào trong tay Phật giáo, nhưng đảng ta đă chỉ đạo cơ sở kịp thời tham gia hỗ trợ, nâng khí thế phong trào lên với qui mô toàn quốc
(trang 98)”.


“Ngoài ra ta cũng nắm được ban chấp hành Tổng Hội Sinh Viên Vạn Hạnh
(nhiệm khóa 1966-1967). Chủ tịch Hoàng Tiến Dũng, Tổng thư kư Phan Long Côn, một trung tâm công khai, có uy tín trong sinh viên Phật tử và đồng bào Phật tử cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.


Đối với tổ chức cấp cao nhất của Phật giáo, đảng ta đă mời Ḥa thượng Thích Thiện Hoa ra tranh cử và Ḥa thượng đă đắc cử Viện trưởng Viện Hóa Đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (trang 106).


“Nhân Lễ Phật đản 5.5.1966, tại Viện Hóa Đạo, học sinh, sinh viên cắm một băng giấy trên chiếc xe Mỹ bị họ đốt cháy: “Đây, kết quả 13 năm viện trợ Mỹ !”, nhiều tấm bảng dựng trước Viện Hóa Đạo vẽ h́nh châm biếm Tổng thống Mỹ Giôn Xơn, khẩu hiệu chống khủng bố trong cuộc đấu tranh ngày 20.5.1966: “Mạng người Việt Nam không thể đổi bằng đô la và bom đạn Mỹ - Rút ngay quân đàn áp ra khỏi Đà Nẵng …”.


Bên ngoài, từ ngày 3 đến ngày 10.6.1966 , Phong trào Bàn thờ phật xuống đường, gây cản trở giao thông, làm rối sào huyệt cuối cùng của địch, 10 xe Mỹ bị đốt trong đợt này (trang 130)”.


Đó là tại Sài G̣n do chính cộng sản Việt Nam khai ra. Sài G̣n là trung tâm quyền lực và quốc tế của Việt Nam Cộng Ḥa, ảnh hưởng của đạo Phật không nhiều, Việt cộng công khai xâm nhập hàng ngũ Phật giáo, c̣n tại các tỉnh miền Trung, nhất là “Liên khu 5” cũ của Việt Minh, Việt cộng làm mưa làm gió đến cỡ nào trong các tổ chứ Phật giáo.


Sự giống nhau ở phương cách đấu tranh, sự lẫn lộn giữa thành quả đạt được của Việt cộng và phe phái đội lốt Phật giáo đă khiến nhiều người nghĩ Phật giáo là Việt cộng, coi Thích Trí Quang như một cán bộ cao cấp của Việt cộng. Đức Quốc trưởng Bảo Đại đă viết trong cuốn: Con rồng Việt Nam:

 

“Vậy th́ ai đă xúi dục họ gây loạn, ai ? Họ ở đâu tới ? Làm sao mà biết được nếu họ từ Hà Nội vào hay từ Bắc Kinh tới ?” (trang 9).

 

Họ là ai ? V́ họ không nói ra, tôi chỉ c̣n cách suy đoán và nghĩ rằng các chính khách tăng lữ muốn xoay chiều lịch sử Việt Nam, mong cho Việt Nam độc đạo, độc tôn, tăng lữ có vai tṛ lănh đạo và thống trị như ở Iran. Nếu quả đúng như vậy, tôi báo động để mọi người Việt Nam phải cương quyết chống lại như đă chống lại chủ nghĩa cộng sản. Cộng sản Việt Nam rồi phải sập, chúng ta phải chuẩn bị đương đầu với những vấn đề hóc búa của quê hương ngày nay.


Tôi nghĩ rằng, những tăng lữ chính khách của Phật giáo chưa bỏ tham vọng muốn đạo ḿnh trở thành độc tôn bằng sự đồng hóa với quốc gia. Mới đây, tôi đọc lời phát biểu của “Ḥa thượng” Thích Huyền Quang trong tang lễ của “Ḥa thượng” Thích Đôn Hậu, đoạn văn này như sau:


“Cơ sở của giáo hội (Phật giáo) là nông thôn, thành thị, cao nguyên và hải đảo”.

 

Đây là đối tượng của quốc gia chứ không không phải của đạo giáo. Đạo giáo muốn nhập nhằng đồng hóa với quốc gia bằng cách coi quốc gia như giáo hội của ḿnh theo kiểu mẫu của Iran. Ngày nào đó, nếu điều này trở thành sự thực th́ thật là điều bất hạnh cho dân tộc Việt Nam vậy”.

 

Trên đây, là những ḍng của cựu Thẩm phán Nguyễn Kim Khánh; c̣n bây giờ, người viết xin trở lại với những lời lộng ngôn, vọng ngữ của Huỳnh Ngọc Tuấn:

 

3- “Trong những tôn giáo lớn tại VN th́ Giáo hội Phật Giáo VN Thống Nhất là tôn giáo mang bản sắc dân tộc sâu đậm nhất, có uy tín và ảnh hưởng to lớn nhất, có số lượng tăng sĩ và tín đồ đông đảo nhất và trong mắt của người CSVN là một mối đe dọa tiềm tàng nguy hiểm nhất?!”

 

Nếu dám nói: “Giáo hội phật Giáo VN Thống nhất, là tôn giáo có uy tín to lớn nhất, có số lượng tăng sĩ và tín đồ đông đảo nhất (chiếm tám mươi phần trăm dân số)…”; th́ tại sao cho đến hiện thời mà Ấn Quang vẫn c̣n kêu ca là “bị đàn áp, pháp nạn”; v́ quả thật, số tăng sĩ và tín đồ đông đảo đến mức độ như thế, th́ chắc chắn trong số “tám mươi phần trăm” ấy, tất nhiên phải có cả “quân đội nhân dân-công an nhân dân-chính quyền nhân dân” rồi, th́  đương nhiên đă là “quốc giáo” rồi, th́ làm ǵ có “pháp nạn”, làm ǵ có “đàn áp-quản chế, quản thúc” một người nào, và làm sao là “mối đe dọa” cho CSVN.  Đừng lộng ngôn, vọng ngữ.

 

Và Huỳnh Ngọc Tuấn đă kết luận:

 

“Hiện tại hơn bao giờ hết, đất nước VN, con người và xă hội VN đang cần một giáo hội chân truyền và trong sáng để dẫn dắt, để xoa dịu những đau thương mất mát và nhất là để hóa giải những hận thù đă chất cao hơn núi tại VN. Đó là sứ mệnh của Giáo hội PGVN Thống Nhất, và chỉ có Giáo hội PGVN Thống Nhất mới đủ tư cách và phẩm giá để làm việc đó.

Tương lai của đất nước này rất cần sự dẫn dắt của Giáo hội PGVN Thống Nhất. Và chúng ta hoàn toàn có thể đặt niềm tin của ḿnh nơi Giáo hội v́ Giáo hội PGVN Thống Nhất luôn đồng hành cùng dân tộc.

 

Tam kỳ ngày 28/06 âm lịch Nhâm Th́n”

 

 

Với đoạn kết luận của Huỳnh Ngọc Tuấn như trên. Người viết không muốn phân tích với những lời của một kẻ cuồng điên; mà chỉ muốn lên tiếng một lần. Chỉ một lần thôi, để cho những người Việt Nam yêu nước chân chính, đă và đang dấn thân vào con đường tranh đấu cho một nước Việt Nam hoàn toàn Tự do- Dân Chủ thực sự, th́ không bao giờ cho phép ḿnh được “ngây thơ”, và chớ bao giờ rơi vào những “kế” của giặc; và người viết cũng không thể kể ra cho hết những đau thương, tang tóc mà “khối Ấn Quang” đă gieo rắc cho vô số những đồng bào hiền lương, vô tội; trong đó, có em Lê Quang San, một học sinh 16 tuổi, con của ông bà Lê Quang Khâm, đă bị Phật tử Ấn Quang dùng gậy gộc, gạch đá giáng cho em những đ̣n thừa chết, thiếu sống, trước khi bắn em gục chết trước cổng chùa Pháp Lâm, tức chùa Tỉnh Hội Quảng Nam- Đà Nẵng ở số 500, đường Ông Ích Khiêm, Đà Nẵng. Xin quư độc giả hăy đọc lại các bài: Nhớ lại cuộc thảm sát Thanh Bồ-Đức Lợi: 24/8/1964 - Cuộc bạo loạn bàn thờ Phật xuống đường tại miền Trung: Mùa hè 1966 - Tưởng niệm bốn mươi năm cuộc thảm sát Tết Mậu Thân: 1968 - 30/4/1975: Máu và Nước Mắt, để tường tận hơn.

 

Cuối cùng, một lần nữa, người viết muốn lập lại:

 

“Khối Ấn Quang”, bao nhiêu năm qua, với cuồng vọng tái lập Lư triều, th́ hăy luôn ghi nhớ một câu nói, mà đă là Phật tử th́ ai cũng phải biết:

 

“Bá thiên, vạn kiếp nan tao ngộ”.

 

 

Paris, 27/8/2012

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

----------------------------------------------------------

 

* Lưu ư: Tất cả những bài viết của tác giả Hàn Giang Trần Lệ Tuyền, nếu quư vị nào muốn tiếp tay chuyển tiếp lên các Diễn Đàn Điện Tử, các trang Web trên mạng lưới toàn cầu th́ không có điều ǵ trở ngại, chúng tôi chân thành cám ơn.

 

Tuy nhiên, nếu quư vị nào muốn in vào sách, báo có tính cách thương mại, xin vui ḷng liên lạc để có sự đồng ư của tác giả trước, qua địa chỉ email: hangiangletuyen@gmail.com .

 

-------------------------------------------------------------

 

       

       "anh thư" Huỳnh Thục Vy và Lê Khánh Duy dự định tổ chức đám cưới vào tháng 8 năm nay 

 

 

----------------------------------------------

 

LỊCH SỬ PHẬT TỬ GHPGVNTN CHỐNG “VNCH”, CHỐNG MỸ, TREO CỜ MTGPMN) Đ̀NH NẠI HIÊN-CHÙA AN LONG 

 

- Ông Nguyễn Đ́nh Liệu đă cho giương cao cờ của Mặt trận Giải Phóng Dân tộc Miền Nam Việt Nam tại vườn hoa Diên Hồng và vườn hoa phía trước Cổ Viện Chàm. Đây là lần đầu tiên cờ của Mặt trận Giải phóng công khai xuất hiện tại Đà Nẵng.


- Tháng 3.1966, Nguyễn Đ́nh Liệu và Thượng tọa Thích Minh Tuấn cho thành lập “Lực lượng thanh niên phật tử cứu quốc”.

 

Ngày 22.8.1964, từ chùa An Long và chùa Tỉnh hội, ông Nguyễn Đ́nh Liệu, Phan Chánh Dinh, Thượng tọa Thích Minh Tuấn, Thích Minh Chiếu … dẫn đầu đoàn biểu t́nh đi đến sân vận động Chi Lăng dự mít-ting hô vang khẩu hiệu “Đả đảo Mỹ-Khánh”. 

 

-         Trong tháng tư, ông Nguyễn Đ́nh Liệu chỉ đạo cho các thanh niên phật tử Nại Hiên và học sinh trường Bồ đề thực hiện chiến dịch “đốt xe Mỹ”, đă có một vụ đốt xe như vậy xảy ra ở đầu đường Bạch Đằng, trước Cổ viện Chàm: một chiếc xe Jeep nhà binh trên xe có hai sĩ quan, một Mỹ và một Nam Hàn vừa chạy trờ đến, th́ các thanh niên phật tử từ chùa An Long xông ra chặn đường và lôi hai sĩ quan này xuống đất, hai sĩ quan này hốt hoảng kêu cứu th́ bị đánh, cùng lúc các thanh niên phật tử khác tưới xăng vào xe và châm lửa đốt. Hai sĩ quan này may mắn chạy vào khách sạn Moderne gần đấy nên thoát chết.

 

 - ngày 1.7.1967, VG Lê Duẫn viết thư ban khen bọn GHPGVNTN-AQ  trong bức thư gửi Thành ủy Sài g̣n - Gia định đề ngày 1.7.1967, ông Lê Duẩn, bí thư thứ nhất BCHTW Đảng, đă viết: ( VG lê Duẫn khen bọn GHPGVNTN-AQ  có công làm VG tiếp tay cho CS Miền Bắc xâm lược)

 

  ”Cuộc nổi dậy của đồng bào Đà Nẵng chống Thiệu – Kỳ từ tháng 3 đến tháng 5 năm 1966, tuy không đem lại thắng lợi, nhưng đă cho ta một bài học bổ ích về lợi dụng mậu thuẫn nội bộ địch. Lúc đầu cuộc nổi dậy đó là không phải do ta chủ động mà nhân cơ hội nội bộ địch chống đối lẫn nhau, ta đă biết tập hợp, phát động quần chúng đứng lên làm chủ thành phố. Mặc dù cơ sở Đảng mỏng và lực lượng cách mạng trong thành phố không nhiều, các đồng chí ở Đà Nẵng đă làm được việc đó. Nhưng thiếu sót ở đây là các đồng chí ở Đà Nẵng chưa tranh thủ được thuận lợi để phát triển thực lực cách mạng … Bài học về cuộc nổi dậy của đồng bào Đà Nẵng rất phong phú”.



(Kỳ 10: Chùa An Long trong Tết Mậu thân 1968)


Kỳ 9: Chùa An Long trong cao trào đấu tranh Phật giáo (chống VNCH) tại Đà Nẵng:


Lễ Phật đản năm 1963, chính quyền Diệm ra lệnh cấm treo cờ Phật giáo tại Huế. Đông đảo tăng ni, phật tử kéo đến đài phát thanh Huế để phản đối. Thiếu tá Đặng Sĩ, tỉnh phó nội an Thừa Thiên - Huế, đă huy động cảnh sát, xe thiết giáp đến đàn áp cuộc đấu tranh, bắn giết đồng bào phật tử. Trước tội ác của địch, phong trào đấu tranh Phật giáo nổ ra khắp miền Nam. Đồng bào phật tử ở Đà Nẵng cũng xuống đường phối hợp đấu tranh.


Nhận chỉ thị của Thành ủy chủ trương vận động nhân dân đấu tranh dưới h́nh thức “ngọn cờ Phật giáo, ng̣i pháo học sinh”, ông Nguyễn Đ́nh Liệu lănh đạo đông đảo tăng ni, phật tử, thanh niên trong khuôn hội Nại Hiên Tây tổ chức cầu siêu trong mùa Pháp nạn, thuyết pháp, biểu t́nh, hô vang khẩu hiệu “đả đảo chế độ độc tài Ngô Đ́nh Diệm!”. (Chống VNCH)


Từ chùa An Long, ông đă dẫn đoàn biểu t́nh tiến về chùa Tỉnh hội Đà Nẵng (nay là chùa Pháp Lâm, số 500 đường Ông Ích Khiêm) đồng thời làm công tác binh vận, lôi kéo các binh lính theo đạo Phật đứng về với nhân dân. Cảnh sát, An ninh quân đội vùng 1 chiến thuật đi đàn áp đoàn biểu t́nh đă bị thanh niên phật tử chống trả quyết liệt. Ngày 3 tháng 11 năm 1963,
 dưới sự hậu thuẫn của ông trùm đảo chính Logde, một nhóm tướng tá Nam Việt Nam tự xưng là Hội đồng quân nhân Cách mạng do Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn … cầm đầu đă tiến hành đảo chính, và sau đó giết chết anh em Diệm-Nhu. Nhiều thanh niên phật tử trong khuôn hội Nại Hiên Tây tham gia phong trào diệt “dư đảng Cần lao”, truy quét ác ôn ở địa phương.


Nhưng chỉ sau đó 3 tháng, ngày 30 tháng 1 năm 1964, được sự ủng hộ của Mỹ và “nhóm các tướng trẻ”, tướng Nguyễn Khánh đă thực hiện cuộc “chỉnh lư” cướp quyền, truất phế các tướng lĩnh chủ chốt của cuộc đảo chính là Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim, Mai Hữu Xuân. Nguyễn Khánh tự xưng là chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng kiêm Tổng tư lệnh quân đội. Ngày 28 tháng 2 năm 1964, Nguyễn Khánh phế truất chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ và lên làm thủ tướng. Ngày 16 tháng 8 năm 1964, ông ta ban hành “Hiến chương Vũng Tàu”, theo đó ông ta là Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng, kiêm Quốc trưởng, kiêm Thủ tướng của Việt Nam Cộng ḥa, cũng như là Tổng tư lệnh, kiêm Tổng tham mưu trưởng của Quân lực Việt Nam Cộng ḥa. Uy quyền của ông ta lên đến mức tột đỉnh. Tuy nhiên, tướng Khánh đă vấp sự phản đối quyết liệt của quần chúng nhân dân. Các cuộc biểu t́nh chống tướng Khánh nổ ra khắp nơi. Ông Nguyễn Đ́nh Liệu lại tham gia lănh đạo phong trào phật tử phối hợp với lực lượng học sinh sinh viên đấu tranh chống độc tài, đ̣i xé bỏ “Hiến chương Vũng Tàu”. Để bảo vệ cho các cuộc biểu t́nh, ông Nguyễn Đ́nh Liệu và Thượng tọa Thích Minh Tuấn cho thành lập “Lực lượng thanh niên phật tử cứu quốc”.


Ngày 22.8.1964, từ chùa An Long và chùa Tỉnh hội, ông Nguyễn Đ́nh Liệu, Phan Chánh Dinh, Thượng tọa Thích Minh Tuấn, Thích Minh Chiếu
 dẫn đầu đoàn biểu t́nh đi đến sân vận động Chi Lăng dự mít-ting hô vang khẩu hiệu “Đả đảo Mỹ-Khánh”. 


Sau đó đoàn biểu t́nh kéo xuống Ṭa Thị Chính Đà Nẵng. Khi đến trước Ṭa Thị Chính ở đường Bạch Đằng, Lực lượng thanh niên phật tử cứu quốc đă dùng loa phóng thanh kêu gọi Hải quân Đại tá Lê Quang Mỹ, Thị trưởng Đà Nẵng, phải ra tŕnh diện và phải bàn giao chức Thị trưởng Đà Nẵng cho nhân dân.
 Đại tá Lê Quang Mỹ hốt hoảng trốn ra cửa sau, rồi chạy đến Bộ tư lệnh Hải quân vùng 1 Duyên hải ở Tiên Sa để tị nạn. Nhân dân đă làm chủ Ṭa Thị Chính trong ṿng 9 ngày (22.8 à 2.9.1964). Trong những ngày sôi động đó, ông Nguyễn Đ́nh Liệu đă cho giương cao cờ của Mặt trận Giải Phóng Dân tộc Miền Nam Việt Nam tại vườn hoa Diên Hồng và vườn hoa phía trước Cổ Viện Chàm. Đây là lần đầu tiên cờ của Mặt trận Giải phóng công khai xuất hiện tại Đà Nẵng và đây cũng là một thắng lợi chính trị to lớn của nhân dân Đà Nẵng nói chung và nhân dân Nại Hiên nói riêng.
T́nh h́nh miền Nam dưới sự quản lư của tướng Khánh ngày càng loạn lạc, giai đoạn tướng Khánh nắm quyền là giai đoạn nổ ra nhiều cuộc đảo chính nhất, uy tín của tướng Khánh càng lúc càng xuống thấp và ngày càng mất ḷng dân. Nhóm các tướng trẻ, do đó, thống nhất truất phế tướng Khánh. Hai tướng trẻ Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ lên nắm chính quyền.


Tháng 3.1966, trong cao trào đấu tranh phật giáo tại Đà Nẵng chống Thiệu – Kỳ, “lực lượng nhân dân tranh thủ cách mạng vùng 1 chiến thuật” được thành lập, Đặc khu uỷ đă đưa 5 cán bộ, trong đó có ông Nguyễn Đ́nh Liệu, tham gia vào Ban lănh đạo các tổ chức đấu tranh. Ông Nguyễn Đ́nh Liệu được cử phụ trách “lực lượng phật tử tranh thủ cách mạng”. Các tướng tá ở vùng 1 như Trung tướng Nguyễn Chánh Thi - Tư lệnh vùng 1, Đại tá Nguyễn Văn Mô - Tham mưu trưởng vùng 1, Đại tá Đàm Quang Yêu - Tư lệnh Biệt khu Quảng Đà ... đều ủng hộ phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân. Ngày 25.3.1966, nhân dân đă thực sự làm chủ được thành phố Đà Nẵng.

 

Trước cao trào đấu tranh cách mạng của nhân dân thành phố Đà Nẵng, Thiệu – Kỳ quyết định đem quân từ Sài G̣n ra đàn áp. Ban đầu, Thiệu – Kỳ định sử dụng quân Nhảy dù, nhưng khốn nỗi, tướng Nguyễn Chánh Thi từng là “quan thầy” của tướng Dư Quốc Đống, tư lệnh Nhảy dù, mà tuớng Đống lại không muốn mang tiếng “phản thầy” nên không chịu đưa quân đi. Các tướng tá Sài g̣n phần lớn cũng ngán tướng Nguyễn Chánh Thi nên chẳng ai muốn đi. Cuối cùng, Nguyễn Cao Kỳ nhờ đến một người bạn thân thiết của ḿnh là Trung tá Nguyễn Thành Yên, Chiến đoàn trưởng Chiến đoàn A Thủy quân lục chiến, cầm quân ra Đà Nẵng để đàn áp phong trào phật giáo.

 

Đổ quân xuống phi trường Đà Nẵng, Trung tá Yên được Thiệu – Kỳ bổ kiêm nhiệm chức Quân trấn trưởng Đà Nẵng để danh chính ngôn thuận cho việc đàn áp. Trung tá Yên nhanh chóng cho Thủy quân lục chiến tấn công chùa Tỉnh hội, dẹp bỏ các bàn thờ Phật ở các đường lân cận đó. Tiếp theo, Trung tá Yên đưa quân về hướng chùa An Long. Khi Thủy quân lục chiến chuẩn bị dẹp các bàn thờ Phật ở đây th́ vấp sự chống trả quyết liệt của lực lượng phật tử tranh thủ cách mạng do ông Nguyễn Đ́nh Liệu lănh đạo. Khốn nỗi, Trung tá Yên là cháu của ông Nguyễn Đ́nh Liệu (cụ thân sinh của Trung tá Yên, Nguyễn Thanh Xáng, là anh em chú bác ruột với ông Nguyễn Đ́nh Liệu) nên Trung tá Yên ra lệnh lui quân (năm 1970, ông Nguyễn Thành Yên là Đại tá phó Tư lệnh Sư đoàn TQLC).


Trong tháng tư, ông Nguyễn Đ́nh Liệu chỉ đạo cho các thanh niên phật tử Nại Hiên và học sinh trường Bồ đề thực hiện chiến dịch “đốt xe Mỹ”, đă có một vụ đốt xe như vậy xảy ra ở đầu đường Bạch Đằng, trước Cổ viện Chàm: một chiếc xe Jeep nhà binh trên xe có hai sĩ quan, một Mỹ và một Nam Hàn vừa chạy trờ đến, th́ các thanh niên phật tử từ chùa An Long xông ra chặn đường và lôi hai sĩ quan này xuống đất, hai sĩ quan này hốt hoảng kêu cứu th́ bị đánh, cùng lúc các thanh niên phật tử khác tưới xăng vào xe và châm lửa đốt. Hai sĩ quan này may mắn chạy vào khách sạn Moderne gần đấy nên thoát chết.


Thấy chưa đàn áp được phong trào cách mạng, ngày 15.5.1966 Thiệu – Kỳ tiếp tục đưa quân ra Đà Nẵng. Nhân dân Đà Nẵng đă anh dũng đánh trả quân chính phủ, nhưng do lực lượng ta c̣n yếu nên ngày 23.6, quân Thiệu – Kỳ đă làm chủ thành phố. Để xoa dịu phong trào cách mạng của nhân dân Đà Nẵng, Trung tá Nguyễn Thành Yên, Chiến đoàn trưởng Thủy quân lục chiến kiêm Quân trấn trưởng Đà Nẵng, đă lên Đài phát thanh Đà Nẵng phát lời kêu gọi như sau:


“ … Nghiêm cấm quân sĩ không được xâm phạm chốn tôn nghiêm, tuyệt đối không được nổ súng bắn trả lại quân phản loạn cho dù có bị thương vong. Đồng thời kêu gọi đồng bào hăy tiếp tay quân đội chính phủ, khiêng các bàn thờ Phật tổ để tạm yên trên lề đường cho xe cộ lưu thông, văn hồi an ninh trên lănh thổ Quảng Nam-Đà Nẵng. Nhưng nhớ phải cẩn thận không được làm ngă đổ tắt nhang đèn”.


Khi quân Thiệu – Kỳ chiếm thành phố, các cán bộ lănh đạo của ta đă rút lui an toàn, những cán bộ có vỏ bọc hợp pháp, như ông Nguyễn Đ́nh Liệu, tiếp tục ở lại lănh đạo phong trào. Đánh giá về sự kiện này, trong bức thư gửi Thành ủy Sài g̣n - Gia định đề ngày 1.7.1967, ông Lê Duẩn, bí thư thứ nhất BCHTW Đảng, đă viết: ( VG lê Duẫn khen bọn GHPGVNTN-AQ  có công làm VG tiếp tay cho CS Miền Bắc xâm lược)


  ”Cuộc nổi dậy của đồng bào Đà Nẵng chống Thiệu – Kỳ từ tháng 3 đến tháng 5 năm 1966, tuy không đem lại thắng lợi, nhưng đă cho ta một bài học bổ ích về lợi dụng mậu thuẫn nội bộ địch. Lúc đầu cuộc nổi dậy đó là không phải do ta chủ động mà nhân cơ hội nội bộ địch chống đối lẫn nhau, ta đă biết tập hợp, phát động quần chúng đứng lên làm chủ thành phố. Mặc dù cơ sở Đảng mỏng và lực lượng cách mạng trong thành phố không nhiều, các đồng chí ở Đà Nẵng đă làm được việc đó. Nhưng thiếu sót ở đây là các đồng chí ở Đà Nẵng chưa tranh thủ được thuận lợi để phát triển thực lực cách mạng … Bài học về cuộc nổi dậy của đồng bào Đà Nẵng rất phong phú”.

(Kỳ 10: Chùa An Long trong Tết Mậu thân 1968)


Kỳ 10: Chùa An Long trong Tết Mậu Thân 1968


Trong cuộc tổng tiến và nổi dậy Tết Mậu thân 1968, chùa An Long đă đóng một vai tṛ hết sức to lớn. Ông Nguyễn Đ́nh Liệu, Bùi Sĩ Tấn cùng một số cơ sở tiếp nhận và cất giấu một lượng lớn vũ khí tại hầm bí mật dưới chân tượng Phật tại chùa An Long. Ngày 29 Tết, ông Nguyễn Đ́nh Liệu chỉ đạo các cơ sở, học sinh sinh viên, tăng ni, phật tử viết khẩu hiệu, biểu ngữ, bàn phương án phối hợp với các mũi đấu tranh trong thành phố, biến chùa An Long thành một trong những trung tâm lănh đạo cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân ở nội thành Đà Nẵng.


Treo cờ MTGPMN tại chùa Tỉnh Hội  ngày 29 Tết

Nguyễn Đ́nh Liệu hoạt động tại chùa An long., chứa vũ khí.


Sau khi chuẩn bị xong, tối 29 Tết, một cơ sở ta dùng xe Jeep chở ông Nguyễn Đ́nh Liệu cùng cờ Mặt trận Giải phóng, khẩu hiệu, biểu ngữ lên chùa Tỉnh hội để phối hợp với lực lượng ở đây chuẩn bị nổi dậy. Sáng mồng 1 Tết, đông đảo quần chúng nhân dân đă tập họp tại chùa Tỉnh hội. Tuy thiếu sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang, nhưng các vị lănh đạo Đặc khu ủy vẫn cho tiến hành nổi dậy theo kế hoạch. Ông Phan Chánh Dinh (c̣n có tên là Phan Duy Nhân và Nguyễn Chính, sau 1975 là cán bộ lănh đạo ở Mặt trận Tổ quốc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, và về sau là Quyền Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ) cầm loa dẫn đầu đoàn biểu t́nh, hô hào quần chúng nổi dậy. Đoàn biểu t́nh kéo từ chùa Tỉnh hội ra đường Ông Ích Khiêm th́ bị địch đàn áp. Ông Phan Chánh Dinh bị bắn găy chân và bị bắt đem về Ty Cảnh sát Gia Long, sau đó bị giải qua Trung tâm thẩm vấn Thanh B́nh và nhà lao Kho Đạn, Đà Nẵng. Địch ra lệnh thiết quân luật và bắn vào đoàn biểu t́nh. Ông Nguyễn Đ́nh Liệu được cơ sở đưa về ẩn náu tại chùa An Long.


Sáng mồng 4 Tết, các ông Nguyễn Đ́nh Liệu, Hà Kỳ Ngộ đều bị bắt v́ có một cơ sở khai báo với địch. Nguyên nhân như sau: ngày 29 Tết, một cơ sở của ta, ông Nguyễn Hiếu, chủ nhà may Đồng Tân ở đường Độc Lập (nay là đường Trần Phú), được giao nhiệm vụ chở một số vũ khí từ Nam Ô đến cất giấu tại chùa An Long, trên đường vào nội thành th́ xe ông Nguyễn Hiếu bị Biệt động quân chặn lại ở Ngă Ba Huế, khi khám xe thấy có chứa vũ khí nên toán Biệt động quân này bắt giữ ông Nguyễn Hiếu rồi chuyển cho An ninh quân đội, tại đây Hiếu đă khai ra địa điểmchùa An Long là nơi cất giấu vũ khí và khai thêm một số cơ sở bí mật nữa.


Tôi xin trích nguyên một đoạn viết của tác giả Hàn Giang Trần Lệ Tuyền (trên trang web
www.mauthan68.blogspot.com) về vụ bố ráp chùa An Long vào sáng mồng 4 Tết Mậu Thân: ”Và cũng qua điều tra bởi vụ án này [Nguyễn Hiếu] mà chính quyền đă huy động một lực lượng gồm An Ninh Quân Đội-Ban II Đặc Khu Quân Trấn- Biệt Động Quân, đột nhập vào ngôi chùa của Khuôn hội Nại Hiên Tây (v́ cảnh sát không bao giờ dám khám xét chùa), sau lưng Cổ Viện Chàm, trước trường Trung học Sao Mai, phía trái có nhiều kho chứa xăng, bên cạnh có cầu tàu thuộc Quân cảng dùng để tiếp nhận chiến cụ; thường được gọi là Cầu Đạn, phía trên là cầu Tŕnh Minh Thế, nối liền một quăng đường ngắn khoảng hơn 100 mét là Trại Nguyễn Tri Phương, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 1, Quân Khu 1. Và đă khám phá ra được một căn hầm bí mật ngay dưới Chánh điện thờ Phật, phía trên được ngụy trang bằng một pho tượng Phật to lớn là nắp hầm để che giấu hơn hai trăm khẩu súng, đạn đủ loại và chất nỗ TNT. Người quản nhiệm ngôi chùa này là một Khuôn hội trưởng - Giáo sư Nguyễn Đ́nh Liệu dạy tại trường Trung học Bồ Đề do Thượng tọa Thích Minh Tuấn làm Hiệu trưởng ;( ngày 29/3/1975, Thích Minh Tuấn đă công khai đưa cả đoàn xe ra tận núi rừng để rước bộ đội Bắc Việt vào thành phố Đà nẵng). Sau đó ông Nguyễn Đ́nh Liệu bị đưa ra Ṭa Án Quân Sự Mặt Trận và bị kết án 10 năm tù ở, thụ án tại Chí Ḥa. Năm 1973, ông Liệu được trao trả nhân viên dân sự tại Lộc Ninh”.


Hầu hết các chi tiết trong đoạn viết trên là chính xác, duy có ba chi tiết chưa thật chính xác,  xin đính chính lại: thứ nhất, ông Nguyễn Đ́nh Liệu không phải là Giáo sư dạy tại trường Trung học Bồ Đề mà chỉ có chân trong ban trị sự trường Bồ Đề; thứ hai là ông Liệu được trao trả theo diện nhân viên dân sự tại Thạch Hăn chứ không phải tại Lộc Ninh; và cuối cùng, ông Nguyễn Đ́nh Liệu thụ án ở Côn Đảo chứ không phải tại Chí Ḥa như tác giả Hàn Giang đă viết.


Cũng trong ngày hôm đó, do Nguyễn Hiếu khai báo nên An ninh quân đội đă ập vào nhà bà Nguyễn Thị Sự (nay là số nhà  K191/17 Ông Ích Khiêm, phường Thạch Thang, quận Hải Châu) và bắt ông Hà Kỳ Ngộ (thường vụ Đặc khu ủy).


Địch đem ông Nguyễn Đ́nh Liệu và ông Hà Kỳ Ngộ về giam tại Kho Đạn. Tại đây, hai ông bị địch tra tấn dă man. Ông Nguyễn Đ́nh Liệu bị địch dùng dùi cui đánh vào mang tai nên về sau này ông đă bị điếc nặng, phải dùng máy trợ thính luôn. Không moi được tin tức ǵ nên địch mang hai ông ra xử tại toà án Quân đội. Ông Nguyễn Đ́nh Liệu bị tuyên án 10 năm tù, ông Hà Kỳ Ngộ bị án chung thân và cả hai ông bị địch đưa ra Côn Đảo.

 

Năm 1973, ông Nguyễn Đ́nh Liệu được chính quyền Việt Nam Cộng ḥa trao trả cho Mặt trận Giải phóng theo diện chính trị phạm dân sự tại Thạch Hăn. Thấy ông tuổi cao, sức yếu lại bị thương tật trong chốn lao tù nên Trung ương đă bố trí ông đi nghỉ tại Trạm tiếp đón cán bộ miền Nam T72 tại Khu an dưỡng Sầm Sơn (Thanh Hoá).


Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng 1975, từ ngày 2.5.1975 đến 31.1.1977, Trung ương đưa ông về lại Liên khu 5, Ban Tổ chức Tỉnh ủy tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng bố trí ông đi nghỉ an dưỡng tại trại Đón tiếp tỉnh QN-ĐN.


Ngày 1.2.1977, ông Nguyễn Đ́nh Liệu chính thức được nghỉ hưu trí theo quyết định 54/QĐ/HT kư ngày 20.12.1976 của UBND tỉnh QN-ĐN. Kể từ đó, ông trở về sum họp với gia đ́nh ở ngôi nhà xưa tại đường Trưng Nữ Vương, phường B́nh Hiên, quận Nhất (nay là Hải Châu), Tp Đà Nẵng. Mặc dù tuổi cao, sức yếu nhưng ông vẫn tham gia sinh hoạt đảng tại đảng bộ phường B́nh Hiên, chủ tŕ việc cúng tế tại địa phương và giành khoảng thời gian cuối đời để viết lịch sử về làng Nại Hiên, đ́nh Nại Hiên, chùa An Long và lập gia phả tộc Nguyễn Thanh. Tài liệu này được viết, cũng một phần, là dựa trên các di cảo của ông Nguyễn Đ́nh Liệu do anh Nguyễn Dục Anh (cháu đích tôn của ông Nguyễn Đ́nh Liệu) đang giữ ǵn và bảo quản. Ông Nguyễn Đ́nh Liệu qua đời vào ngày 16 tháng 10 năm 1984 tại tư gia trong niềm thương tiếc vô bờ của đông đảo đồng bào đồng chí tại Quảng Nam - Đà Nẵng và toàn thể con cháu trong chư phái tộc làng Nại Hiên.


Sau Mậu Thân 1968, do đă bị lộ nên chùa An Long không c̣n là cơ cở cách mạng nữa. Thầy Thân bị liên đới không làm trụ tŕ, Đại đức Thích Như Dục từ chùa Tỉnh hội về trụ tŕ tại chùa An Long.

 

Như vậy, trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vẻ vang của nhân dân ta, chùa An Long cũng đă đóng góp ít nhiều công sức vào đấy. Từ năm 1962 đến năm 1968, chùa An Long đă là:

-         một cơ sở che giấu và nuôi dưỡng cán bộ ta,

-         một địa điểm bí mật để tập kết và cất giấu vũ khí, tài liệu, máy đánh chữ …cho cách mạng,

-         một trong những trung tâm lănh đạo các phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân trong ḷng đô thị Đà Nẵng dưới vỏ bọc phong trào đấu tranh Phật giáo,

-         một trong những trung tâm lănh đạo cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân ở nội thành Đà Nẵng.

 

 

(Kỳ 11: Lời kết)

 

Kỳ cuối: Thay cho lời kết

 

Kể từ lúc các vị Tiền - Hậu Hiền làng Nại Hiên vào khai khẩn mảnh đất dọc theo hai bên bờ sông Hàn đến nay là vừa tṛn 535 năm. Tổ tiên làng đă xây đ́nh Nại Hiên, dựng chùa An Long và từ đó đ́nh, chùa là nơi sinh hoạt tinh thần, tôn giáo, là nơi dân làng tổ chức những hoạt động lễ hội và là nơi giữ ǵn những nét đẹp văn hóa xưa. 


Ngày nay, mặc dầu đă trở thành thị dân nhưng nhân dân Nại Hiên vẫn không bao giờ mờ nhạt ư thức cộng đồng làng xă, họ tộc tổ tiên, vẫn duy tŕ những sinh hoạt văn hóa tinh thần, tôn giáo, bởi v́ những sinh hoạt văn hóa tại đ́nh Nại Hiên và chùa An Long vào các lễ tế chư vị thần chủ làng hay lễ Phật Đản, lễ Vu Lan . . . là dịp tốt nhất để mọi người t́m về cội nguồn, ôn lại truyền thống, ngưỡng vọng tổ tiên và giải tỏa mối lo âu thường nhật, làm dịu bớt nỗi đau tinh thần hay gửi gắm khát vọng thầm kín mà thực tại chưa hoặc không giải quyết được. Thực tế cho thấy những sinh hoạt văn hóa này không chỉ đă góp phần vào việc giáo dục truyền thống 
”uống nước nhớ nguồn””đền ơn đáp nghĩa” (Thích Quảng Độ treo Uống Nước Nhờ Nguồn để tán tụng công đức VG HCM)  đối với những người có công với làng xă, với họ tộc mà c̣n giáo dục truyền thống yêu quê hương đất nước, gắn bó với quê hương, với mảnh đất Nại Hiên đă thấm đẫm mồ hôi, xương máu của ông cha, qua đó làm tăng cường ư thức gắn kết cộng đồng của dân làng trong cuộc sống đầy những thay đổi của thời hội nhập văn hóa. Hội nhập văn hóa đang là một xu thế mang tính phổ biến trong thời đại hôm nay, nhưng hội nhập không đồng nghĩa với ḥa tan mà hội nhập văn hóa phải đi cùng với việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, những nét đẹp văn hóa xưa và những di tích của tổ tiên.


Nhưng đ́nh Nại Hiên và chùa An Long đâu chỉ là nơi giữ ǵn những nét đẹp văn hóa xưa mà c̣n là nơi ghi dấu bao chiến công anh dũng, bao thành tích cách mạng của nhiều thế hệ dân làng Nại Hiên trong sự nghiệp giữ nước của dân tộc Việt Nam. Đ́nh lớn Nại Hiên là nơi ông Án Nại đặt đại bản doanh của nghĩa quân Nghĩa hội chống Pháp, đ́nh nhỏ Nại Hiên là nơi chứng kiến sự ra đời của Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời xă Nại Hiên trong những ngày Cánh mạng Tháng Tám lịch sử. Trong kháng chiến chống Mỹ, chùa An Long là nơi che giấu và nuôi dưỡng cán bộ, là nơi tập kết và cất giấu vũ khí, tài liệu, máy đánh chữ …cho cách mạng, là nơi lănh đạo các phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân trong ḷng đô thị Đà Nẵng dưới vỏ bọc phong trào đấu tranh Phật giáo, là nơi lănh đạo cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân ở nội thành Đà Nẵng.


Trải qua bao lần dâu bể, bao cơn phong ba băo táp và bao phen khói lửa chiến chinh, đ́nh chùa vẫn c̣n đứng đấy, trầm mặc nh́n dân làng Nại Hiên theo ḍng đời xuôi ngược, như để làm chứng tích cho một lịch sử vẻ vang mà nhiều thế hệ dân làng Nại Hiên đă và đang chung tay gây dựng.


Hậu thế xin đời đời tri ân công đức cao dày của Tiền nhân!


Đ́nh Nại Hiên, chùa An Long 

Năm trăm năm sử trong ḷng hằng ghi


Nại Hiên - An Long, mùa Vu Lan, Kỷ Sửu (2009) Đinh Bá Truyền

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính