Nước Mắt trước cơn Mưa – “Tears Before the Rain” 

 

Gs. Larry Engelmann

Nhà Văn Nguyễn Bá Trạc dịch

 

 

 

 

 

Dưới đây là một chương ngắn của tập sử liệu rất có giá trị “Tears Before The Rain”, viết về giai đoạn hấp hối của chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa, vào tháng 4 năm 1975, dưới sự chứng kiến tận mắt của Chỉ Huy Trưởng Trung Ương T́nh Báo Hoa Kỳ (CIA) Thomas Polgar tại Nam Việt Nam. Xin mời quư độc giả theo dơi để thấy, không phải những giới chức cao cấp thuộc các cơ quan như CIA, Ṭa Đại Sứ… làm việc trực tiếp, gián tiếp với VNCH, đều muốn ĺa bỏ Nam Việt Nam, mà thật sự ngược lại, họ đă rơi nước mắt… khổ đau, bó tay trước thời cuộc mà trong tận cùng đáy ḷng họ phải thốt nên lời: “Chúng tôi là một đoàn quân chiến bại.”

Nước Mắt Trước Cơn Mưa, nguyên tác Anh Ngữ ”Tears Before The Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: Người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại…

Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do Nhà Văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

 

Tác giả Larry Engelmann

 

Hiểu ư định địch quân không khó v́ Bắc Việt không giữ bí mật phương hướng, đường lối. Họ thường cho cán bộ học tập kỹ lưỡng cả đến những chi tiết đáng ngạc nhiên về những ǵ họ làm, hơi giống kiểu Hitler và cuốn Mein Kampf. Họ thường nói trước những ǵ họ sẽ làm, chúng ta thường không tin những ǵ họ đă nói. C̣n chính sách Hoa Kỳ th́ đơn giản là không đáp ứng những tin t́nh báo mà chúng tôi thu lượm.

 

THOMAS POLGAR (Chỉ huy Trung Ương T́nh Báo Mỹ tại Việt Nam)

 

Xin đưa thí dụ: Mùa Thu 1974, chúng tôi t́m ra được những báo cáo của Hà Nội nói Nixon đă đổ, chúng ta sẽ chơi một trận cầu mới, chúng ta sẽ có nhiều thử nghiệm trong phạm vi quân sự. Tôi xem các tài liệu này rất hệ trọng. Bắt đầu vào tháng 10.1974, khi t́m được phương án hoạt động 75, tôi lái xe xuống Biên Ḥa nói chuyện với viên Trưởng Nhiệm Sở T́nh Báo Vùng, nơi họ bắt được phương án này, chúng tôi đă bàn thảo và đi đến kết luận: Cái giọng trong văn kiện này tương đồng khủng khiếp với cái giọng của tập tài liệu 90 nguyên tắc chỉ đạo do trung ương cục miền Nam đưa ra vài tháng trước cuộc tổng công kích 1972.

 

Một hôm, tôi có dịp hỏi ư kiến Kissinger về hoạt động t́nh báo của chúng ta, không phải chỉ riêng ở Việt Nam, mà nói chung. Lúc ấy, ông đang tiếp nhận một lưu lượng khổng lồ các tin tức do Trung Ương T́nh Báo từ khắp nơi trên thế giới gửi về. Tôi hỏi ông nghĩ thế nào về giá trị ngành t́nh báo chúng ta ? Ông suy nghĩ một lúc, rồi trả lời: “Khi nó hỗ trợ cho chính sách của tôi, nó rất hữu ích!” Tôi nghĩ: Đấy, chính đấy là tâm điểm vấn đề. Vấn đề là chính sách Mỹ không được thiết lập để đáp ứng với tin tức do t́nh báo thâu nhập được nhưng chúng ta thiết lập chính sách trước, rồi cố t́m kiếm các tin tức t́nh báo để hỗ trợ chính sách ấy mà thôi.

 

Ở Việt Nam lúc đó có ba nguồn t́nh báo chính: Quân Báo, Sở An Ninh Quốc Gia và Trung Ương T́nh Báo. Chúng tôi không bao giờ gặp những trường hợp tin tức nghịch chiều. Chưa bao giờ Văn Pḥng T́nh Báo-Văn Pḥng Tùy Viên Quân Sự đưa ra những quan điểm hoàn toàn khác biệt với quan điểm những cơ quan t́nh báo bạn. Chúng tôi phối hợp chặt chẽ với Bill Legro, người chỉ huy t́nh báo thuộc Văn Pḥng Tùy Viên Quân Sự suốt phần lớn thời gian kể từ sau Hiệp Định Ba-Lê. Nhưng trở ngại là chính sách Hoa Kỳ đă được đặt trên căn bản của một tiền đề: Tiền đề đó là Chiến Tranh Việt Nam đă chấm dứt. Quân Đội Hoa Kỳ đă rút. Và chắc chắn, Tổng Thống Ford sẽ không để cho hy vọng tái bầu cử của ông bị đe dọa v́ việc có thể đưa quân Mỹ trở lại Việt Nam.

 

Vào năm 1974, chúng ta đă không gửi tiếp vận cho Nam Việt Nam đúng kỳ hạn. Chúng ta đă chậm trễ trong việc thi hành các nghĩa vụ đồng minh. Lúc ấy, tôi báo cáo: Nếu người miền Nam Việt Nam mất tin tưởng vào sự hỗ trợ của Hoa Kỳ, họ sẽ sụp đổ. Tôi nhấn mạnh vào sự tin tưởng vào tinh thần của họ, hơn là vào cả cái mức độ thực sự của việc yểm trợ quân sự.

 

Có 5 sự kiện xảy ra trong năm 1973 dù không liên quan ǵ đến Việt Nam, nhưng đă ảnh hưởng trầm trọng đến họ.


• Trước hết, cuộc chiến Ả Rập/Do Thái đă làm đổi hướng Bộ Quốc Pḥng Mỹ và đổi hướng nguồn quân vận sống chết của Nam Việt Nam.


• Tiếp đến việc phong tỏa dầu lửa, giá dầu thô tăng vọt làm kinh tế Nam Việt Nam bị va chạm, thiệt hại nặng.


• Rồi các nhược điểm trong chính sách ngoại giao Mỹ đă tạo nên những phản ứng tâm lư mạnh mẽ chống lại việc tiếp tục các cam kết ngoại giao đắt giá.


• Rồi việc quân nhân đảo chánh, hạ bệ Salvador Allende ở Chí Lợi làm công luận thuộc Khuynh hướng Tự Do và Khuynh hướng Tả phái tức giận, họ trút sang đầu Nam Việt Nam.


• Sau nữa, Quốc Hội v́ ghê tởm vụ bưng bít Watergate, đă t́m cách trừng phạt Nixon, nên cũng gộp luôn cả Việt Nam vào vụ này.

 

Tôi nghĩ ông Thiệu hiểu rất rơ: Không có Mỹ, ông không thể tồn tại được. Tôi cũng biết Hoàng Đức Nhă, cháu ông Thiệu rất nhiều. Nhă đă học bốn năm đại học ở Mỹ, c̣n hiểu rơ hơn cái bản chất bất định của nền chính trị Hoa Kỳ, những sự lên xuống thuần túy chỉ do áp lực nội bộ gây ra, thường chẳng liên quan đến đề mục ngoại giao, mà lại ảnh hưởng lớn đến liên hệ ngoại giao. Nhưng làm thế nào một người như Thiệu có thể nhận thức thấu đáo sinh hoạt Quốc Hội Mỹ, trong khi cách làm việc của ông là chỉ coi Quốc Hội của ông như một công cụ khúm núm quỵ lụy mà thôi?

 

Vụ thất thủ Phước Long xảy ra đầu năm 1975 không quan trọng về phương diện quân sự, nhưng cực kỳ quan trọng ở phương diện tiêu biểu: Nước Mỹ đă từ chối không thực hiện lời Nixon hứa với Thiệu rằng sẽ “trả đũa mạnh mẽ và toàn bộ.” Quân Bắc Việt thử nghiệm xong, tất nhiên được đàng chân, lân đàng đầu, họ sẽ tiến sâu hơn nữa.

 

Khi Phái Đoàn Quốc Hội Hoa Kỳ đến Việt Nam, tôi nghĩ cách hành xử của Fraser và Abzug không tha thứ được. Ngay khi bước vào pḥng, Abzug lên tiếng hỏi: “Trong mấy người ở đây, ai là Polgar?” Tôi tự giới thiệu. Bà ta nói: “Tốt! Tôi đă được người ta cảnh giác về ông.”

 

 

Bà Bella Abzug

 

Bấy giờ có một lănh tụ sinh viên bị nhốt tù, anh này có đôi chút tiếng tăm ở Mỹ. Bà Abzug đầu tiên bảo anh ta chắc chết rồi, Nam Việt Nam giết hắn rồi. Tôi bảo “Không. Nam Việt Nam không làm như vậy. Họ có thể xác định được bất cứ người nào ở đâu trong tù.” Bà ta bảo: “Xác định người này xem.” Chúng tôi xác định ra được địa điểm giam anh ta là ở vùng 3, Tuy Ḥa. (Ghi chú của người dịch: Có lẽ là Biên Ḥa) Bà bèn bảo bà ấy muốn phỏng vấn. Nhưng đi xe hơi xa quá, phải có trực thăng, bà ấy lại chỉ có thể đi sáng Chủ nhật, thực bất tiện cho tất cả mọi người. Nhưng cũng đành, chúng tôi thu xếp trực thăng, thu xếp thủ tục thăm tù. Sau khi tất cả lo liệu xong, bà ấy nói: “À, tôi không lưu ư vụ này nữa” và không bao giờ đi gặp người sinh viên này nữa.

 

Cùng đi trong Phái Đoàn có Millicent Fenwick. Bà này tuy không có cảm t́nh với Nam Việt Nam nhưng vẫn c̣n cư xử đàng hoàng, đă theo dơi lắng nghe các buổi thuyết tŕnh. Nhưng Abzug và Fraser hết sức quá quắt. Tổng Thống Thiệu mời cả phái đoàn dự tiệc, hai người này thản nhiên không dự. Họ chẳng đếm xỉa nghi lễ, không buồn từ chối. Họ lẳng lặng không đến. Trước buổi tiệc ấy là tiếp tân của Thủ Tướng, họ đến, nhưng họ không tḥ mặt vào buổi tiệc của Tổng Thống. Rồi Đại Sứ cũng mời Phái Đoàn dùng cơm chiều. Tất cả mọi người đến, trừ Abzug. Tôi rất thất vọng, v́ chính tôi đă được xếp ngồi ngay cạnh bà ta.

 

Bà Millicent Fenwick

 

Về vụ tấn công Ban Mê Thuột ngày 5 tháng 3, tôi không tin có ai đă đoán trước được, nhưng hầu hết mọi người đều biết một cuộc tấn công lớn sẽ xảy ra ở Cao Nguyên Trung Phần.. Chúng tôi biết họ sẽ cắt đường, sẽ đưa vào nhiều sư đoàn. Tất cả đều đă xảy ra đúng như vậy, nhưng Hoa Thịnh Đốn không bao giờ chấp nhận tin tức t́nh báo của chúng tôi.

 

Họ không chấp nhận v́ – (Chúng ta đang bước vào chuyện xuất xứ các nguồn tin và những phương pháp thâu nhập tin tức t́nh báo, chẳng rơ tôi có nên nói ra ở đây không) – Nhưng sự kiện xảy ra là giới t́nh báo Hoa Thịnh Đốn đă không sử dụng tin tức t́nh báo từ Việt Nam do Văn Pḥng Tùy Viên Quân Sự và Sở Trung Ương T́nh Báo chuyển đến, nói rằng sẽ có một cuộc tấn công lớn tại Cao Nguyên vào năm 1975. Họ từ chối không chịu tin điều ấy. C̣n miền Nam Việt Nam th́ chẳng có được một quan niệm chiến thuật riêng tư nào, ngoài việc đặt một trung đoàn chỗ này, đưa một trung đoàn ra chỗ kia để pḥng vệ. Trung đoàn tăng cường Ban Mê Thuột không đủ đương đầu t́nh h́nh, họ cũng không được may mắn. Những lực lượng này dùng để giữ các địa phương th́ tốt, họ tỏ ra đắc lực để đối đầu vài trận tấn công. Tuy nhiên họ không phải là loại binh đội được huấn luyện và trang bị để chiến đấu với các đơn vị chính quy chủ lực có chiến xa tăng cường.

 

Sau khi mất Ban Mê Thuột, ông Thiệu họp với Tướng Phạm Văn Phú tại Cam Ranh, ban lệnh triệt thoái cao nguyên. Tôi nhớ buổi họp ấy nhằm thứ Sáu. Phú cho thực hiện kế hoạch vào thứ Bảy. Nhận tin sáng thứ Bảy ấy, tôi chạy theo Tướng Charles Timmes ra Tổng Tham Mưu, và nói rằng “Tôi chẳng biết chuyện trời đất ǵ đang xảy ra đây nữa!” Tôi cho một phụ tá cao cấp đi gặp Tướng Đặng Văn Quang, Cố Vấn An Ninh của Thiệu, hỏi chuyện ǵ đang xảy ra ở Vùng II. Quang bảo: “Ông thấy, t́nh h́nh không được tốt. Chúng tôi không mở đường lại được, chúng tôi đang lo ngại về t́nh h́nh và sẽ phải thay đổi vị trí một vài đơn vị chớ chẳng có chuyện ǵ xảy ra ở Vùng II cả.”

 

 

Tướng Đặng Văn Quang

 

Hiển nhiên, ông Quang không hay biết ông Phú đang di tản.

 

Tướng Timmes vào Tổng Tham Mưu Việt Nam, nhưng không gặp Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng. Mọi sự ở đấy có không khí của một buổi sáng thứ Bảy. Nhưng ông đă gặp Tướng Trần Đ́nh Thọ, là Trưởng Pḥng Hành Quân để hỏi thăm tin tức Vùng II.. Ông Thọ nói: “C̣n có cái ǵ xảy ra mà quư ông không hay biết cả đâu?”

 

Rơ rệt, Bộ Tổng Tham Mưu cũng không biết ǵ việc ông Phú đang triệt thoái. Sau đó tôi nhận tin trực tiếp từ Pleiku gửi về. Phó Đại Sứ Wolf Lehman bấy giờ đang bận một số chuyện lặt vặt. Joe Bennett, sĩ quan chính trị đang bận đi chữa răng. Tôi điện thoại cho Moncrieff Spear, Tổng Lănh Sự ở Vùng II, bảo ông ta: “Tốt hơn hết ông nên chuyển người của ông ra khỏi Pleiku, theo chỗ tôi hiểu: Người ta đang di tản.” Ông ta nói: “Anh khùng à?” Bấy giờ ông ta đang ở Nha Trang, vùng duyên hải, tôi bảo: “Không, tôi có lư do để tin những việc đang xảy ra.” Ông ta nói: “Có phải anh ra lệnh cho tôi di tản Pleiku đấy chăng?” Tôi bảo: “Ông biết thừa tôi không thể làm thế. Nhưng tôi có thể kết luận nếu khôn ngoan th́ hăy di tản ngay đi.”

 

Có một điểm tôi muốn nêu ra đây về Tướng Phú trong buổi sáng hôm ấy. Bất kỳ công trạng trước đây của ông thế nào, không kể, nhưng bây giờ ông ta đă hoàn toàn không phối hợp với chúng tôi. Ông ta không thông báo cả cho Tổng Lănh Sự là người mà ông bắt buộc phải thông báo, v́ đây là đại diện chính thức của Hoa Kỳ tại Vùng II. Ông Quang cũng không biết chuyện ǵ đang xảy ra, ông ta có vẻ của một người bận rộn, nhưng thực t́nh chỉ lăng xăng giết th́ giờ. C̣n ông Thọ Trưởng Pḥng Hành Quân, cũng thế, chẳng hay biết ǵ cả. Trong sự suy đoán của tôi: Những việc xảy ra đó là do Tướng Phú hiểu lầm những ǵ Tổng Thống Thiệu nghĩ trong đầu, rồi tự khởi xướng một kế hoạch hành động, không biết việc ấy trong thực tế sẽ khó khăn đến đâu. Thực tế cuộc di tản ấy không thành công. Mọi cuộc triệt thoái sớm hay muộn đều là một sự thất bại khủng khiếp.

 

Quân đội Bắc Việt bắt kịp cuộc di tản của Tướng Phú. Chiến xa của họ đâm ra từ các đường nhánh, gặp đoàn quân tại Phú Bổn. Cuộc tàn sát đă diễn ra ở đấy.


Trước buổi họp Cam Ranh, tôi liên lạc với Hoa Thịnh Đốn để ghi nhận cuộc chơi đă xong. Tôi nhớ tôi nói chuyện với một viên chức có liên hệ khá chặt chẽ với tôi (xin miễn đưa tên), ông ta bảo: Nam Việt Nam không thể nào tiêu hóa nổi việc mất Ban Mê Thuột cùng với cái hậu quả tất yếu của nó là mất toàn thể Cao Nguyên. Ống là một sĩ quan cấp Tướng.

 

Lúc ấy vẫn chưa có ǵ xảy ra ở Vùng I. Rồi tai họa bắt đầu. Thiệu quyết định rút cả Thủy Quân Lục Chiến lẫn Nhảy Dù khỏi Vùng I. Quyết định này giống như chợt rút đi cái chiếu trong lúc Tướng Trưởng c̣n đang đứng trên ấy, nó làm ông ta hổng cẳng.

 

Tiếp đến, mất cả Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Họ trở nên vô dụng, v́ đầu tiên người ta ra lệnh triệt thoái, sau lại ra lệnh “quay đàng sau, quay,” để quay trở lại! Đó là chuyện bất khả thi về phương diện quân sự. Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến mất rất nhiều chiến cụ v́ không thể nào lấy ra được trong cái ḍng người tỵ nạn tràn lan. Lúc này ông Thiệu đang ngoi ngóp trong biển nước, ông cố bám lấy vài cọng cỏ. Nhưng lúc này ông có làm bất cứ cái ǵ cũng không c̣n có thể thay đổi t́nh thế lại được nữa. Cuộc chơi đă xong!

 

Tôi tin tưởng chắc chắn rằng khi người Việt Nam có cảm tưởng chúng ta sắp chạy, tất cả sẽ sụp đổ. Điều này, tôi hoàn toàn đồng ư với Đại Sứ Martin. Ông Đại Sứ lúc ấy đă rời Việt Nam sang Mỹ cùng với Phái Đoàn Quốc Hội. Ông nghĩ ông có thể vận động được một vài dân biểu, ông sẽ cố ra điều trần trước Quốc Hội. Đến Hoa Thịnh Đốn, người ta phát hiện t́nh trạng sức khỏe của ông cần giải phẫu, việc này đă làm chuyến về của ông chậm trễ. Không muốn mọi người phải quan tâm nhiều, ông đi xuống North Carolina mổ, ngay Bộ Ngoại Giao cũng không biết liên lạc với ông ở đâu. Ông là một người kín đáo. Ông trở lại Việt Nam cuối tháng Ba, trước khi Đà Nẵng mất và chuyến C-5A bị rơi.

 

Về vụ chiếc C-5A th́ thoạt đầu đề nghị chuyển vận các cô nhi đi bằng máy bay hoàn toàn chỉ có mục đích vận động nhân tâm. Phó Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Y Tế, cũng là bác sĩ y khoa-Bác Sĩ Đán cảm thấy cần phải làm một cái ǵ về các cô nhi. Đại Sứ Martin và vài cố vấn cũng cảm thấy nếu đưa được các cô nhi sang Mỹ hàng loạt th́ việc này có thể vận động t́nh cảm công chúng Mỹ, nó sẽ là một câu chuyện khích động ḷng xót xa con người.

 

Cùng lúc ấy, Văn Pḥng Tùy Viên Quân Sự lại có nhiều nhân viên phụ nữ sẵn sàng di tản, nhưng người ta không thể cấp thông hành cho họ v́ Hoa Kỳ chưa chính thức di tản. Như thế ai sẽ trả phí tổn di chuyển bằng đường hàng không từ Việt Nam, Hoa Kỳ chăng? Nên tôi nghĩ có thể xếp đặt cho họ vào những chuyến máy bay quân đội c̣n trống, xem họ như những người đi kèm các cô nhi, như thế khỏi lo liệu vấn đề lộ phí, tiền bạc. Chính vợ tôi cũng đi với tư cách người kèm cô nhi, nhưng rồi vợ tôi t́nh cờ đă lên một chiếc máy bay dân sự thuộc hăng Cathay Pacific, đúng một ngày với chuyến C-5A bị rớt.

 

Tôi có hai bác sĩ thuộc Trung Ương T́nh Báo, nhân viên của tôi, khi máy bay rớt đă đi khiêng xác chết, xác của những đứa trẻ nhỏ bé này, vào bệnh viện Cơ Đốc ở Sài G̣n. Một trong hai bác sĩ ấy mang theo máy ảnh, chụp rất nhiều h́nh. Khi tôi đưa những tấm ảnh này cho Đại Sứ coi, ông suy nghĩ khá lâu xem có nên công bố hay không. Nhưng ông kết luận những bức ảnh này quá rơ ràng, quá đẹp, màu sắc sống động, với h́nh ảnh các thân thể nát vụn của đàn bà trẻ con, thay v́ khích động ḷng thương xót, lại tạo ảnh hưởng xấu, nên người ta quyết định không công bố nữa.


Vài ngày trước hôm Thiệu từ chức, một nhân viên cao cấp người Hung Gia Lợi thuộc Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Đ́nh Chiến đến gặp tôi, anh ta nói: “Này ông bạn, phải thực tế chút chứ? Ông phải biết các ông đă thua trận chiến này.” Tôi bảo: “Ô kê, tôi nh́n nhận: Trận chiến đă bại rồi.” Anh ta nói: “Mỗi cuộc thất trận đều tạo nên nhiều hậu quả chính trị.” Tôi bảo: “Đồng ư.” Anh ta nói: “Hiển nhiên những hậu quả chính trị này sẽ gây nhiều cay đắng. Nhưng bên phía mà tôi đại diện…” Anh ta bỏ lửng, không nói đại diện cho ai “…Không có ư định hạ nhục Hoa Kỳ một cách quá mức. Có lẽ, có thể t́m ra được một giải pháp nào. Không phải để thay đổi cuộc diện trận chiến, v́ nó đă xong, nhưng để thu xếp cho một cái chung cuộc mà…” Một lần nữa, anh ta sử dụng những chữ này: “Không hạ nhục Hoa Kỳ một cách quá mức.”

 

Tôi hỏi: “Ông có ư nghĩ ǵ trong đầu vậy?” “À vâng.” Anh ta nói: “Ông biết chúng tôi đă ra Tân Sơn Nhứt thảo luận với các đồng nghiệp Bắc Việt của chúng tôi. Chúng tôi có người ở Hà Nội. Tôi có cảm tưởng có lẽ chúng ta có thể t́m được một cách giải quyết trong lúc t́nh h́nh đang diễn tiến thế này – Thiệu bắt buộc phải từ chức. Hoa Kỳ cần phải tuyên bố bất can thiệp vào nội t́nh Nam Việt Nam, ngoại trừ việc duy tŕ ở đây một cơ cấu sứ quán b́nh thường. Và chính phủ Nam Việt Nam cần bao gồm một số người Bắc Việt có thể chấp nhận.. Đấy là những vấn đề chủ yếu.” Tôi đáp: “Vâng, tốt lắm, cảm ơn ông bạn nhiều. Đương nhiên, tôi sẽ báo cáo cuộc nói chuyện của chúng ta hôm nay. Tôi sẽ thảo luận với Đại Sứ chúng tôi để chuyển về Hoa Thịnh Đốn, rồi tôi sẽ gặp lại ông. Trong lúc chờ Hoa Thịnh Đốn trả lời, xin ông vui ḷng đi gặp các bạn của ông một lần nữa để t́m hiểu xem ai sẽ là những người mà họ có thể chấp nhận được trong chính phủ ấy?”

 

Vài ngày sau, Thiệu từ chức. Tôi trở lại gặp người bạn Hung Gia Lợi của tôi mà nói: “Đấy, tôi đă chuyển đạt và thực hiện xong điều thứ nhất của ông. Chúng tôi vẫn chưa nhận được hết câu trả lời dứt khoát. C̣n ông đă có đề nghị nào về những tên người mà tôi hỏi hay chưa?” Anh ta đáp: “Vâng, thực ra tôi đă có. Nhưng tên người Việt, tôi dở lắm. Để tôi viết ra.” Anh ta lấy một quyển sổ tay nhỏ, bắt đầu viết một số tên. Tôi đáp: “Thú vị nhỉ. Tất nhiên tôi sẽ tiếp tục xúc tiến câu chuyện lần trước giữa chúng ta, tôi sẽ trở lại gặp ông.” Nhưng anh ta nói: “Tôi có thêm vài lời nữa từ các đồng nghiệp của tôi ở đây. Họ nói khi họ bảo mọi chuyện cần phải thu xếp cho sớm, điều ấy có nghĩa là trong ṿng vài ngày, chứ không phải vài tuần đâu.” Ông Đại Sứ tỏ ra có thiện cảm với chuyện này. Ông nghĩ có thể chúng tôi thực hiện được một cái ǵ chăng. Nhưng chúng tôi đă gặp phản ứng tiêu cực của Kissinger, là người không muốn có chuyện thương thảo ǵ hết.

 

Đến ngày 26 hoặc 27 tháng Tư, chúng tôi gặp nhau lại, lần này anh chàng Hung Gia Lợi nói: “Tôi nghĩ muộn quá rồi.”!

 

Đấy, tôi kể cho các bạn nghe mấy chuyện này bởi v́ tôi muốn nhấn mạnh thật ra không bao giờ chúng tôi thương thảo với đối phương, cũng không bao giờ làm điều ǵ đối phương đ̣i hỏi. Việc ông Thiệu từ chức là v́ những lư do hoàn toàn khác, không liên hệ đến mấy chuyện này, nhưng tôi đă vờ vịt với họ, làm như chuyện ông Thiệu từ chức có liên hệ đến mấy chuyện ấy mà thôi.

 

Thiệu từ chức ngày thứ hai 21 tháng Tư. Ông Đại Sứ không yêu cầu Thiệu từ chức, nhưng vào ngày 19 tháng Tư sau khi ông Đại Sứ nói chuyện với Thiệu, th́ hiển nhiên Thiệu đă mất hết tin tưởng vào mọi người, v́ mọi người xem Thiệu như chướng ngại vật trong cuộc dàn xếp, trong các thủ tục ngưng chiến, mọi người không có thể cục cựa ǵ nếu Thiệu cứ luẩn quẩn bên cạnh.

 

Một bữa Đại Sứ gọi tôi vào văn pḥng nói ông mới gặp Tổng Thống Hương, Tổng Thống không được thoải mái v́ sự tiếp tục có mặt của Thiệu ở trong xứ. Ông cụ Hương nghĩ sự hiện diện của Thiệu làm giảm uy quyền của ông, chừng nào Thiệu c̣n ở đây th́ ông cụ tê liệt không làm ǵ được cả. Ông cụ khẩn thiết yêu cầu Đại Sứ Martin lo liệu hộ v́ lẽ chỉ Hoa Kỳ mới ở vị thế giúp được chuyện này. Việc đưa Tổng Thống Thiệu ra khỏi xứ cần thực hiện tuyệt đối trong ṿng “Tối mật!” Vâng, Đại Sứ Martin là người đầy lư trí, khi nghe cái ǵ “Tối mật” tất ông nghĩ đến “CIA Trung Ương T́nh Báo,” thế là ông hỏi: “Anh làm được không?” Tôi bảo “Thưa Đại Sứ, tôi làm được. Với một điều kiện. Ấy là: Để yên cho tôi lo. Cứ giao việc để tôi xoay sở, nhưng đừng đem cả một ủy ban dính vào đây.” Việc này xảy ra ngày 24 tháng Tư th́ phải.

 

Mọi sự được xúc tiến nhanh chóng ngay sau đó. Tôi biết tôi có thể thu xếp máy bay ở đâu. Tôi lấy Tướng Timmes là điểm liên lạc chính. Vào lúc này Thiệu đă rời căn nhà trong Tổng Tham Mưu. Các Tướng lănh cao cấp Việt Nam đều có nhà trong căn cứ Tân Sơn Nhất. Chúng tôi đồng ư là với một kế hoạch hành động, cũng có đôi điều cần phải quan tâm: Phải quan tâm công luận. Phải lo ngại chuyện một số quân nhân vô kỷ luật của Nam Việt Nam có thể can thiệp, vài sĩ quan cao cấp có thể manh nha trong đầu cái ư nghĩ làm lịch sử. Cũng phải lo ngại cả chuyện cảnh sát chặn trên đường ra Tân Sơn Nhất, việc này tuy không liên quan ǵ đến chuyện Thiệu đi, nhưng cảnh sát thường có những điểm chặn trên đường, nên chúng tôi phải bày việc đi dự tiệc trong căn cứ Tham Mưu Liên Quân. Chúng tôi lấy vài chiếc xe Mỹ kiểu tiêu chuẩn, màu đen, gồm cả xe Đại Sứ, xe tôi, xe phụ tá của tôi, đủ để chở từ mười đến mười hai người, kể cả các tài xế, Tướng Timmes, tôi, và hành lư.

 

Chúng tôi dặn rơ mỗi người chỉ được mang một vali. Chúng tôi dàn xếp tất cả sẽ gặp nhau tại nhà Thủ Tướng Khiêm, bởi v́ đây là căn nhà lớn nhất, ít bị chú ư hơn là nhà ông Thiệu. Chúng tôi đồng ư sẽ cho máy bay đi Đài Loan, nơi người anh của Thiệu làm Đại Sứ, như thế ông ta sẽ thu xếp được với nhà cầm quyền Đài Loan để mọi người được nhập nội. Thủ Tướng Khiêm cũng từng là Đại Sứ ở Đài Loan, như thế ông ta cũng có nhiều liên hệ. Khi chọn Đài Loan làm điểm đến, tôi cũng cân nhắc rằng chuyến máy bay DC-6 chỉ có thể bay xa nhất bấy nhiêu, mà khỏi cần đổ thêm xăng.

 

Tôi chọn vài người làm tài xế mà tôi xem như những tay bảnh nhất, đáng tin cậy và vững chăi nhất. Tôi không lựa tài xế người Việt-Frank Snepp là một trong các tài xế ấy. Tướng Timmes, v́ cấp bực của ông, không thể lái xe, tôi cũng thế, cấp bực của tôi không cho phép tôi lái xe. Tôi kiếm một Đại Tá Cảnh Sát, cũng là Đại Tá Quân Đội, tôi nói: “Cần phải có một người với cái vẻ chỉ huy lẫm liệt.” Tôi dự pḥng trường hợp lính gác hạch hỏi ǵ chăng. Pḥng xa thế, chứ tôi biết khi lính gác nh́n thấy bốn cái xe Mỹ do Mỹ lái th́ họ sẽ bảo “Các tay tổ đây,” khi nhận ra xe Đại Sứ, họ sẽ bảo “Ông Đại Sứ đi họp” chắc chắn thế, chả trở ngại ǵ, nhưng phải có một Đại Tá quân đội cảnh sát để dự pḥng cho vững. Chúng tôi không biết Thiệu sẽ mang theo những ai. Chỉ biết một ḿnh ông Thiệu sẽ đi, Khiêm sẽ đi, không biết c̣n ai khác. Cho nên cứ mang theo một số giấy tờ để trống, rồi Tướng Charlie Timmes sẽ điền tên họ vào bằng tay.

 

Chúng tôi đưa cả cho viên Đại Úy trên máy bay, bảo: “Khi đến Đài Loan chúng tôi sẽ thông báo cho các giới chức quân sự Mỹ. Anh cứ yêu cầu gặp các sĩ quan cao cấp, và đưa tận tay chiếc phong b́ này. Tất cả giấy tờ ở trong ấy.” Trong lúc đó một xe khác chở Đại Sứ chạy thẳng đến chiếc máy bay v́ Đại Sứ muốn đến chào tạm biệt Thiệu. Tôi nói với Đại Sứ: “Tôi không muốn đi cùng một xe với Đại Sứ trong thành phố v́ chỉ tạo thêm nhiều rủi ro phiền phức.” Cho nên tôi nhớ chúng tôi đă đổi xe. Tất cả diễn ra chính xác như một cái đồng hồ Thụy Sĩ, cũng như khi chúng tôi thực hiện các điệp vụ. Chúng tôi đă đưa mọi người đến máy bay an toàn, vào máy bay an toàn, sau đó sẽ cất cánh an toàn.

 

 

Tôi ngồi chung xe với Thủ Tướng Khiêm, chứ không ngồi với Thiệu. Tôi nhớ Tướng Timmes ngồi với ông Thiệu. Mọi người đều kiềm chế cảm xúc, không ai khóc. Gia đ́nh họ đều đă đi cả. Thực ra, có một điều làm tôi ngạc nhiên. Tôi ngạc nhiên v́ trong tất cả các cộng sự viên thân tín gần gũi, ông Thiệu không mang theo ai, trừ Thủ Tướng Khiêm. Điều này rất lạ v́ chỉ mới vài năm trước tại khắp các quán cà phê ở Sài G̣n người ta ś sào bàn tán chuyện chia tay giữa Thiệu và Khiêm, chuyện ông này sẽ hất ông kia vân vân… Tất nhiên tôi không đánh giá cao mấy chuyện ấy v́ lẽ tôi có liên hệ rất tốt với Thủ Tướng, tôi luôn luôn coi ông như một viên chức tận tụy trung thành với Thiệu. Tổng cộng gồm mười bốn người đi ra chuyến bay đêm ấy. Tất cả đều là đàn ông.

 

Tôi luôn dè chừng trường hợp có người nhận ra ông Thiệu ở các trạm kiểm soát, nhưng tôi cũng tính toán: Người ta đă quen cách di chuyển cố hữu của ông Thiệu trong thành phố bằng một chiếc xe Mercedes cũ kỹ, khác với đây là bốn chiếc xe Hoa Kỳ của Ṭa Đại Sứ có bộ dạng quan trọng. Bấy giờ trời tối, việc chặn xét bốn chiếc xe Hoa Kỳ là việc ít khi xảy ra. Dẫn đầu là chiếc Chevrolet Caprice của Đại Sứ có vỏ chắn đạn, tôi ngồi trong xe này, có viên Đại Tá Cảnh Sát đi kèm. Mối e ngại nhất của tôi là lỡ ở trạm gác, cảnh sát soát căn cước, bật đèn pha soi vào chúng tôi th́ sao? Như thế họ sẽ nhận ra ông Thiệu và Thủ Tướng. Nhưng rồi việc xảy ra là khi thấy bốn chiếc xe với bộ dạng quan trọng như thế chạy đến trạm, mấy người lính canh nghiêm chỉnh giơ tay chào. Đúng là điều tôi mong đợi. Có lần tôi đă đưa một nhân vật trọng yếu đào thoát từ Tây Bá Linh bằng một chiếc xe lớn tựa như vậy, tôi cũng tính rằng lính Liên Sô sẽ chào kính khi họ thấy chiếc xe, và quả thật họ đă làm y vậy.

 

Đêm hôm ấy, Thiệu không hề đem theo vàng xuất ngoại. Câu chuyện ấy chỉ là chuyện cứt khô! Ai điên khùng ǵ mà lại gói vàng bỏ lỏng lẻo trong va li, trời đất! Tôi muốn nói, tôi có một người bạn Việt Nam đă mang vàng đi, tôi biết vàng phải được bọc chặt chẽ cẩn thận, quấn bằng vải, bằng dây cao su, bằng băng keo, đủ các thứ. Có ai lại để cho vàng kêu lách cách trong hành lư bao giờ. Thực ra số vàng dự trữ của Việt Nam vẫn ở trong xứ, khi quân Bắc Việt đến, vàng vẫn ở đấy. Số vàng dự trữ của Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam trị giá từ 18 đến 20 triệu Mỹ kim. Trị giá thực sự của số vàng ấy đúng ra cao hơn nhiều, v́ lư do giá vàng chỉ được tính có 35 Mỹ kim một ounce (0.28g). Đó là cái giá tại Việt Nam trước thời Nixon phá giá đồng Mỹ kim. C̣n vào năm 1975, giá vàng thực ra ở mức 170 Mỹ kim một ounce.

 

Bấy giờ đă có lúc Nam Việt Nam không c̣n tín chỉ trên thế giới nữa, Quốc Hội Mỹ th́ lừng khừng từ chối yêu cầu viện trợ, và như thường lệ, Đại Sứ Martin đă đưa ra sáng kiến nóng hổi: Ông nghĩ Nam Việt Nam nên gửi số vàng ấy sang Quỹ Dự Trữ Liên Bang Hoa Kỳ, dùng sổ vàng ấy kư quỹ mà mua chịu vơ khí. Vâng, Thiệu đă chấp thuận đề nghị. T́nh cờ có chuyến bay chở hàng của Thụy Sĩ thuộc Hăng Basel Air đang ở Sài G̣n, Nam Việt Nam thương lượng với Basel Air mang số vàng này đi dưới h́nh thức hàng hóa thương mại thông thường. Mấy người Thụy Sĩ suy nghĩ một hai ngày rồi từ chối không nhận chở, v́ lư do bảo hiểm. Họ bảo không cách ǵ kiếm ra ai chịu bảo hiểm số 70 triệu Mỹ kim vàng ra khỏi Sài G̣n. Người ta lại phải tính đến Không Quân Hoa Kỳ. Việc này được đem thảo luận tại Hội Đồng An Ninh Quốc Gia. Chở một tấn rưỡi vàng đối với Không Quân Hoa Kỳ không khó, nhưng t́m đâu ra mối bảo hiểm thương mại khi người ta lại sử dụng máy bay quân đội; chấm hết!

 

Cái củ khoai nóng nuốt không trôi lại được ném lên bắp vế mấy anh trạng sư ở Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Suốt thời gian này đống vàng vẫn nằm yên tại Ngân Hàng Quốc Gia ở Sài G̣n. “Làm thế nào kiếm cho ra mối chịu bảo hiểm chuyến hàng này nếu chúng ta chở đi bằng máy bay quân sự?” Đó vẫn là cái đề tài làm bù đầu mấy anh trạng sư suốt mấy hôm. Trong lúc ấy Thiệu từ chức, một tốp người mới vào nắm quyền, Cụ Hương hôm đầu th́ bảo ừ, chở đi, hôm sau lại bảo đừng, đừng chở nữa. Cuối cùng Cụ kết luận thôi tốt nhất cứ giữ lấy vàng ở Sài G̣n, bởi v́ kể từ khi Đại Sứ Martin bắt đầu nói chuyện này, cho đến lúc ấy t́nh h́nh đă biến đổi, dẫu cho có kư thác vàng để lấy vũ khí Mỹ, vũ khí không c̣n đến kịp và cũng chả giúp ích ǵ nữa. Ngoài ra họ cũng c̣n giữ được thể diện khi để lại số vàng ở trong xứ. Như thế, số vàng đă được để lại.

 

Đêm hôm ấy, cũng là đêm tôi dự buổi dạ tiệc quốc tế cuối cùng ở Sài G̣n. Buổi dạ tiệc được tổ chức tại tư thất Đại Sứ Ba Lan nhân dịp giới thiệu viên Trưởng ngành chính trị Ba Lan với các ngoại giao đoàn. Mọi người đều có mặt. Tất cả các Đại Sứ c̣n ở tại Sài G̣n đều được mời, và ông Ba Lan mới đến nói ông ta rất mong mỏi gặp tôi. Ông ta bảo rơ rệt chúng tôi đang ở vị trí lưỡng tương hoán chuyển, ông ta muốn biết quan điểm của tôi đối với t́nh h́nh. Chúng tôi bèn hẹn nhau một buổi ăn trưa vào một tuần lễ sau ngày hôm ấy. Ngày ấy sẽ là nhằm ngày mùng một tháng năm! Giữa tất cả những chuyện trông ngóng, tôi đă trông ngóng đến ngày mùng một tháng Năm ấy để gặp mặt ông bạn đồng nghiệp người Ba Lan của tôi!


Đại Sứ Martin không phải là người thích tiệc tùng, nhưng trong trạng thái bồn chồn của thành phố đêm hôm ấy, ông bảo: “Tôi sẽ đi dự, nhưng đi riêng xe nhé.” V́ vậy tôi quay trở lại căn pḥng gửi một điện văn. Điện văn này tôi đă viết sẵn, chỉ cần dùng điện đài để đánh mật mă mà phụ tá của tôi và tôi đă giao ước trước. Suốt một ngày làm việc, đấy là tất cả những ǵ tôi cảm thấy sau khi hoàn tất việc đưa ông Thiệu ra đi.

 

Ngày rời Sài G̣n là ngày tôi buồn rầu cùng cực, chỉ thiếu điều muốn sụm.

 

Đoạn kịch cuối mở màn ngày thứ Hai. Chiều thứ Hai là một buổi chiều rất xấu. Dương Văn Minh nhậm chức đêm hôm ấy. Ông vừa đọc xong bản diễn văn nhậm chức, th́ giông băo khủng khiếp ập đến Sài G̣n. Mưa rơi xối xả. Những cơn mưa đến sớm, lúc ấy chưa đến mùa mưa. Rồi xảy ra vụ chiếc phi cơ phản nghịch, tức là chiếc phi cơ Mỹ với b́nh xăng phụ 50 ga-lông do mấy phi công dưới sự điều động của Bắc Việt dội bom lên Tân Sơn Nhất. Lúc ấy chúng tôi c̣n ở tại văn pḥng. Mặc dầu đă khoảng bảy giờ đêm, chúng tôi vẫn c̣n ở đấy v́ lúc này Sài G̣n ban đêm chẳng có ǵ khác để làm, thứ nữa Sài G̣n và Hoa Thịnh Đốn cách nhau mười hai tiếng, lúc ấy buổi sáng ở Hoa Thịnh Đốn, chúng tôi cố chuyển càng nhiều điện văn càng tốt, để khi bắt đầu làm việc, Hoa Thịnh Đốn đă có đủ thông báo của chúng tôi.

 

Khi nghe tiếng nổ, chúng tôi đâm bổ xuống núp dưới gầm bàn. Bấy giờ, tôi nhớ tôi đang ở trong pḥng viên Trưởng Ban Truyền Tin. Nhân viên truyền tin là những người lo phụ trách các báo cáo t́nh báo để gửi đi bằng điện đài.

 

Chúng tôi rất thận trọng việc soạn thảo các điện văn này, luôn luôn sử dụng Anh ngữ một cách văn vẻ, sửa chữa kỹ càng, dù phải vội vă trong các trường hợp khẩn cấp, y như các phóng viên nhà báo vậy. Lúc ấy chúng tôi đang lom khom núp dưới gầm bàn, tôi sẽ không bao giờ quên kỷ niệm này: Một cô nhân viên truyền tin xinh đẹp hấp dẫn nhổm lên, kéo cái máy chữ xuống, cô ta bắt đầu đánh: “Sài G̣n gửi Hoa Thịnh Đốn, bản báo cáo t́nh h́nh lúc 19 giờ địa phương. Một vụ pháo kích không xác định được xuất xứ đang phát nổ trong thành phố. Vụ pháo kích đang tiếp diễn quanh chúng tôi, vẫn chưa có ai biết chuyện ǵ xảy ra!”

 

Không bao lâu, chúng tôi xác định được chuyện ấy. Chúng tôi chắc chắn đây là câu trả lời của quân đội Bắc Việt phản ứng lại bài diễn văn nhậm chức của ông Minh. Trong bài diễn văn này, ông ta nói ông sẽ tiếp tục chiến đấu, nói đủ thứ lảm nhảm mà một tháng trước đấy ông ta không hề nói. Tôi nghĩ cái h́nh ảnh chính xác để mô tả ông là h́nh ảnh một người không đủ tài cán được đặt vào một chức vụ quá khả năng, làm mọi người phải mệt với sự bất lực của ông ta.

 

Trong tuần lễ cuối cùng, Sài G̣n vẫn sinh hoạt tốt đẹp mặc dầu có trận không kích xảy ra. Điện, điện thoại, thực phẩm vẫn đầy đủ, có lẽ chỉ hơi thiếu chút rau xà-lách. Tối ấy tôi đi ngủ muộn, bốn giờ rưỡi sáng đă bừng dậy v́ lại có tiếng nổ, lần này nổ lớn dữ dội. Tôi điện thoại cho nhân viên trực của tôi ở Ṭa Đại Sứ, một nhân viên t́nh báo; ở đấy, ngoài lính Thủy Quân Lục Chiến, chúng tôi luôn có hai nhân viên trực suốt ngày đêm. Tôi hỏi anh biết có chuyện ǵ xảy ra không? Anh ta nói lúc ấy chưa biết rơ, nhưng có pháo kích vào Tân Sơn Nhất, Thủy Quân Lục Chiến đă trèo lên nóc nhà nh́n thấy có lửa cháy, anh ta đă liên lạc Văn Pḥng Tùy Viên Quân Sự, họ cũng chưa biết ǵ đích xác. Nhưng đă có một số thiệt hại đáng kể, hai lính Thủy Quân Lục Chiến tử thương. Tôi bảo: “Được rồi, t́nh trạng nghe có vẻ tệ, nhưng có anh đang ứng trực ở đấy là tốt lắm.” T́nh cờ, chính nhân viên này cũng là sĩ quan trưởng pḥng tài chánh. Tôi bảo: “Sửa soạn mấy cái phong b́ khởi hành.” Phong b́ khởi hành là những phong b́ có đựng một số chỉ dẫn, số điện thoại của những Ṭa Đại Sứ Mỹ các nơi và tại vùng Đông Á. Mỗi phong b́ được bỏ vào số tiền 1500 đô la bằng Mỹ kim và bằng một số ngoại tệ các nước khác. Mỗi người sẽ được trao tay một phong b́ này để pḥng vệ an toàn, dự pḥng trường hợp thất lạc. Tôi bèn nói với anh nhân viên trực: Tôi sẽ đến Ṭa Đại Sứ ngay.

 

Tôi là người đến sớm nhất. Lúc ấy Thủy Quân Lục Chiến đă nhận thêm báo cáo từ Văn Pḥng Tùy Viên Quân Sự. Dựa vào đấy tôi cảm thấy Ṭa Đại Sứ cần phải được huy động. Tôi điện thoại cho Đại Sứ, tôi nói: “Rất tiếc phải gọi Đại Sứ vào giờ này. Ông c̣n có thể được ngủ đến hơn 3 tiếng đồng hồ nữa. Nhưng tôi nghĩ Đại Sứ cần phải vào gấp.” Ông Đại Sứ bảo ông sẽ vào. Lúc ấy, chúng tôi có một hệ thống tổ chức: Cứ một người gọi bốn người, mỗi người lại phải liên lạc gọi bốn người khác v.v… Nên tôi bắt đầu huy động mọi người qua hệ thống này. Buổi sáng sớm hôm ấy, t́nh trạng sức khỏe của Đại Sứ rất bết bát. Ông đau ốm khặc khừ, và sau này, lúc lên đến chiến hạm, người ta mới khám ra là ông bị viêm phổi. Giọng ông khản đặc, khào khào không ra tiếng. Tinh thần bị kích động trăm phần trăm. Khi Kissinger gọi điện thoại, Martin không nói nổi, ông th́ thà th́ thào rồi tôi phải nhắc to lên cho Kissinger nghe rơ.

 

Đại Sứ đă ra tận Phi Trường Tân Sơn Nhất, bởi v́ ông ta là Graham Martin mà, bạn hiểu không, mặc dù đă có đến mấy ông Tướng Không Quân phụ trách ngoài phi trường, ông vẫn không chịu tin các lượng giá của họ về việc phi cơ không c̣n đáp xuống được nữa. Ông đ̣i phải đích thân đến phi trường xem xét rồi mới chịu!

 

Ngày hôm ấy khi trời sáng, ngoài Đệ Thất Hạm Đội các phi công đă sẵn sàng, trực thăng xăng nhớt đầy đủ, mọi người chuẩn bị xong. Nhưng chừng tám giờ rưỡi, chúng tôi lại được bảo không di tản nữa! Họ bảo chúng tôi sẽ phải thu hẹp số nhân viên, nhưng vẫn giữ Ṭa Đại Sứ ở Sài G̣n. Họ bảo nhân số Ṭa Đại Sứ sẽ c̣n lại 180 người, trong số ấy 50 người sẽ là nhân viên t́nh báo, nhóm nhân viên t́nh báo này có nhiệm vụ phụ trách toàn bộ các đường truyền thông của Ṭa Đại Sứ. Họ bảo các trưởng ban, trưởng pḥng khác sẽ nhận lệnh sắp xếp: Kinh tế 8 người, chính trị 16 người, y tế, tài chánh, hành chánh…do nơi Hoa Thịnh Đốn xếp đặt. Người ta đoán chừng lệnh này do Kissinger chuyển đến ông Đại Sứ. Tôi không bao giờ nh́n thấy lệnh ấy trên văn tự, nhưng lệnh ấy được chuyển đến tôi sáng hôm ấy do Đại Sứ nói. Do đó tôi về văn pḥng, tập họp các nhân viên cao cấp của tôi, lúc ấy tôi c̣n chừng 250 nhân viên t́nh báo tại chỗ. Tôi nói: “Quư bạn, chúng ta sẽ rút nhân số xuống 50 người, và sẽ phải đương đầu với một số lượng truyền thông nhiều hơn thường. Nào, bây giờ tính thử 50 người nào sẽ ở lại, bắt đầu là tôi!” Chuyện này không dễ dàng như thay lính Thủy Quân Lục Chiến bởi lẽ nhiều khi nhân viên t́nh báo không thể hoán chuyển. Mỗi người có những khả năng chuyên biệt. Người là nhân viên truyền tin. Người là nhân viên điều hành. Người là phân tích viên.

 

Tôi lại cần người với các khả năng ngoại ngữ khác nhau. Tôi cần phải giữ vài người nói được tiếng Việt. Phải có vài người nói được tiếng Ba Lan, để giao dịch với nhân viên Ba Lan tại Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đ́nh Chiến. Về tiếng Hung Gia Lợi th́ khỏi lo, chẳng ai khác ngoài tôi nói được thứ tiếng này. Cứ như thế, suốt mấy tiếng đồng hồ loay hoay xếp đặt. Lại c̣n phải cân nhắc trường hợp những người đă măn hạn, có người sắp được hồi hương vào tháng năm, cho dù anh ta măi đến tháng Bẩy mới măn hạn, cũng không nên giữ anh ta lại. Có người gặp t́nh trạng gia đ́nh. Nhiều thứ phải cân nhắc, không để giống như hồi năm 1954 ở Hà Nội, Ṭa Lănh Sự Mỹ và các nhân viên ở đấy dù không bị giữ làm con tin, nhưng họ đă tự phong tỏa, tự khóa cửa và phải ở trong khuôn viên hàng mấy tháng, không liên lạc đuợc với ai.

 

Cái khẩu lệnh ấy cũng đă được chuyển ra ngoài hạm đội: Ṭa Đại Sứ sẽ ở lại. Tư Lệnh Hạm Đội, Đề Đốc Noel Gayler, tất nhiên không phải là chuyên viên phân tích chính trị. Nghe thế, ông ta bèn nói “Vậy à, Ṭa Đại Sứ ở lại. Phi công! Trở về giường mà phè một giấc!” Thế là xăng lại được hút khỏi trực thăng, v́ người ta không được phép chứa trực thăng có xăng ở trên tàu. Người ta lại phải chuyển trực thăng khỏi sàn máy, đưa xuống tầng dưới.

 

Bấy giờ là 9 giờ sáng, hoặc giả trễ hơn một chút. Rồi đến 11 giờ 30, cuối cùng lại có lệnh ban ra: Tất cả mọi người phải di tản.

 

 

Gs. Larry Engelmann

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính