Mậu Thân 1968 – Cuộc thảm sát của Việt cộng tại Huế
The Vietcong massacre at Hue

 

Tội ác Hồ chí Minh

 

 

Lời mở đầu: HLTL xin lỗi v́ đă khơi lại nỗi đau buồn của Quư vị. Bởi v́ hiện nay csVN liên tiếp ra báo xảo trá về biến cố Tết Mậu Thân ḥng tuyên truyền và chạy tội, nên chúng ta cần trưng ra sự thật đau ḷng về Huế Mậu Thân 1968 để tuổi trẻ không có cái nh́n lệch lạc về sự kiện này.


HLTL - Bốn mươi bốn năm trước(1968-2012) vào ngày tết Mậu Thân truyền thống của dân tộc, trong khi 50% quân nhân QLVNCH về nhà đón xuân trong dịp đ́nh chiến 3 ngày mà CS Bắc Việt đă đồng ư với VNCH, th́ quân CS Bắc Việt và tay sai nằm vùng bất ngờ lật lọng vi phạm đ́nh chiến, đồng loạt tấn công các thành phố và các căn cứ quân sự trên toàn cơi miền Nam Việt Nam. Tại thành phố Huế, csVN đă tàn sát hơn 5000 đồng bào vô tội bằng cách đập đầu, bắn chết, đánh đập, và chôn sống tập thể. Bác Sĩ Elje Vannema là người đă có mặt ở Huế đă kể lại trong cuốn sách tài liệu The Vietcong Massacre at Hue (Việt cộng Thảm Sát ở Huế) phát hành năm 1976 ở New York. Bài viết được bổ túc bởi một số h́nh ảnh do Bác sĩ Vannema chụp và @Net.


Elje Vannema, The Vietcong Massacre at Hue. Vintage Press, New York, 1976

Dịch bởi... (HLTL xin lỗi chưa biết tên người dịch một phần của quyển sách The Vietcong Massacre at Hue sau đây.)

 

 

Mới sáng tinh sương đă thấy quân Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam [Cộng Sản Việt Nam lập ra Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam để trá h́nh] hiện diện trong thành phố. Họ là những người lo mặt chính trị trong cuộc chiếm cứ. Ngày hôm trước, họ vào sổ gần hết mọi người, ghi tên, tuổi, phái tính. Họ quan tâm đặc biệt đối với phái nam, chia những người này ra thành nhiều nhóm: công chức, những người có liên hệ với quân đội Việt Nam Cộng Ḥa, và những kẻ khác. Nhiều trường hợp họ ghi chú đầy đủ cả gia đ́nh, cả tên con cái nữa. Mỗi nhóm họ chỉ định một người đại diện, mang trách nhiệm mọi mặt về tất cả thành viên trong nhóm. Nếu có người thoát th́ người đại diện phải lănh đủ. Dân chúng được lệnh không tụ họp đông người, trừ khi được kêu đi dự mít tinh, không được nghe đài, không được phao tin đồn đăi....


Ngày hôm sau, du kích và nằm vùng địa phương tỏa ra đi t́m những người có tên trong danh sách viết tay nguệch ngoạc. Họ được đưa về Tiểu chủng viện, nơi dựng ṭa án nhân dân. Một anh cựu sinh viên chủ tọa phiên ṭa với sự hiện diện của một người Bắc Việt và hai sinh viên khác. Hai sinh viên này chúng tôi biết....


Các phiên ṭa nhân dân mấy ngày trước đă chấm dứt. Dân chúng hiện diện khá đông tại các phiên ṭa ở Tiểu chủng viện, ở Gia Hội bên kia cầu và ở trong thành. Ṭa án ở Tiểu chủng viện do Hoàng Phủ Ngọc Tường chủ tŕ. Anh này tốt nghiệp đại học Huế và là cựu lănh tụ sinh viên trong Ủy Ban Phật Giáo chống chính quyền trước đây. Cầm đầu ở Gia Hội là Nguyễn Đắc Xuân, trước kia là một liên lạc viên cộng sản nay đột nhiên lại xuất hiện. Ṭa trong thành do hai sinh viên Nguyễn Đọc và Nguyễn Thị Đoan điều khiển. Các phiên ṭa vang lên những lời đe dọa với khẩu hiệu tuyên truyền, kết tội, qui chụp. Hầu hết những người bị lôi ra ṭa chẳng biết lư do ḿnh bị bắt. Nhưng tất cả đều bị kết tội, một số bị tử h́nh tức khắc.


... những khúc thi hài đă rữa nát khám phá trong những mồ chôn tập thể 1968

Sau hai ngày phiên ṭa kết thúc, nhường chỗ cho những công tác khủng bố dân chúng khác. Một người trộm mở nghe đài (radio) bị bắn giữa thanh thiên bạch nhật để làm gương. Một anh sinh viên không tới dự lớp học tập cũng bị bắn công khai. Nguyễn Đọc bắn nhiều người trong đó có người bạn thân đồng lớp là Mu Ty, chỉ v́ bạn không chịu hợp tác với y. Bước vào ngày thứ hai bắt đầu kiểm soát lương thực, thực phẩm.


Ngày thứ bốn, v́ không tuân hành lệnh cách mạng, một gia đ́nh bị xử. Người chủ gia đ́nh bị bắn tức khắc. Dưới áp lực khủng bố gia tăng nhiều người bỏ trốn, nhưng ít kẻ thoát. Vùng Gia Hội có nhiều người thoát hơn nhờ ban đêm chèo bè qua sông sang làng Đập Đá. Thường bị bắn theo nhưng cố chèo.


Những người nằm vùng xuất đầu lộ diện, ra tay truy lùng nạn nhân. Bộ đội Bắc Việt và quân chính quy Cộng Sản Việt Nam (CSVN) lo chuyện quân sự và chiến lược. Nằm vùng địa phương lo việc chính trị, hành chính, b́nh định, tuyên truyền, và tiêu diệt kẻ thù. Đám này bắt và giết người bất kể, nhiều khi chỉ v́ hiềm thù cá nhân. Cán bộ miền Bắc có mặt ở ṭa án nhân dân xem ra ít nắm vững chuyện chính trị và đóng vai tṛ ít quan trọng trong các bản án. Địa phương quyết định mọi chuyện. Trước khi lên danh sách, thường đám nằm vùng đă quyết định bắt ai rồi. Chỉ c̣n việc ra lệnh thanh toán những ai họ nhắm nữa mà thôi. Có lẽ họ lư luận rằng, thà giết lầm hơn bỏ sót, v́ bỏ sót th́ sau này ḿnh sẽ bị nhận diện. Một cách hệ thống, công chức, quân nhân, sinh viên có tinh thần quốc gia, có khả năng lănh đạo và có thể gây trở ngại cho cách mạng, chính trị gia đối lập, tất thảy đều được đoái hoài. Danh sách bất tận.


Dân chúng tập trung ở nhà thờ chính ṭa được lệnh vào bên trong, không ai được đứng bên ngoài. Phụ nữ và trẻ con được lệnh ngồi xuống. Đàn ông và thiếu niên từ 15 tuổi trở lên đứng. Ở bệnh viện, tṛ tương tự cũng đă diễn ra. Dân quanh vùng, đặc biệt là vùng quanh căn cứ Mỹ, được lệnh tập trung vào bệnh viện v́ cộng sản sợ giao tranh có thể xảy ra ở đó. Dân lúc này c̣n sợ súng máy và hỏa tiễn trực thăng hơn quân chiếm đóng nên ngoan ngoăn làm theo lệnh. Sau ba ngày, đàn bà con nít được lệnh ngồi, đàn ông đứng dậy để hai tên nằm vùng nhận diện, trước mặt hai cán bộ miền Bắc và hai bộ đội CSVN. Hai người nằm vùng này mới được xổ tù khi Việt cộng chiếm thành phố. Cả hai đều là thành viên kỳ cựu của CSVN. Một số người, trẻ có già có, được cấp thẻ và dẫn về nhà thờ chính ṭa. Bên trong nhà thờ đàn ông và thiếu niên được lệnh sắp thành hàng rồi bước ra ngoài với cán bộ hộ tống. Từ nhà thờ họ băng qua các đường Phủ Cam lên Chùa Từ Đàm. Bị giữ ở đấy một ngày rồi lại tiếp tục đi phía Nam, hướng Nam Giao. Đàn bà trẻ con nhao lên nhưng được trấn an rằng cha, chồng, con họ phải ra phục dịch bên ngoài thành. Một số bà đi theo xa xa, nhưng rồi bị chặn lại. Trong số người ra đi có anh lính trẻ cộng ḥa và Lương (nhân vật kể lại câu chuyện này). Ngày kế tiếp, cuộc hành tŕnh kéo dài suốt chiều tới tối, thoạt tiên rời Từ Đàm đi về hướng Nam rồi bẻ hướng Đông Nam. Sáu cây số đường đi mà Lương nghĩ là một cuộc trường chinh. Không ai nói với ai. Chỉ một lần yên lặng bị cắt đứt bởi một câu hỏi của ai đó “Ta đi mô đây”. Có tiếng phụ họa “Lên núi hay tới chỗ chết?”.


Bộ đội CSVN nói là họ được đưa đi học tập. Không ai biết ḿnh đi đâu nhưng tự thâm tâm nhiều người tin rằng có lẽ đời ḿnh sắp kết thúc. Ông già đi bên cạnh Lương bỗng ngă quỵ. Cho tới lúc đó anh không biết có ông già đi bên ḿnh. “Bắt gió cho ông ta” tiếng ai đó vang lên... Lương ôm lấy ông cho tới khi người canh gác tới.


Mắt ông già hé mở trong chiều xẩm tối. Tiếng nói lạc giọng thều thào. “Xin để tui đi, để tui ở lại đây”, ông van xin, bàn tay xương xẩu níu lấy cánh tay người gác. “Tui không đi xa hơn được nữa”.


“Đứng dậy “.


Ông già gượng dậy, cố thẳng người thêm được vài bước rồi lại ngă. Người gác đoàn lúc này hết kiên nhẫn, đạp ông ra lề đường rồi bỏ đi. Vài phút sau, một phát súng xé không khí cùng với một tiếng kêu yếu ớt vang lên. Làm thế để chắc ăn, không ai chứng kiến. Xác ông được dập vào một hố gần đó, hai tù nhân được lệnh lấp đất. Một tháng sau xác ông được đồng bào khám phá.


Vô vọng, đoàn người bước đi càng lúc càng chậm, câm lặng uất nén. Người gác càng hối thúc. Rồi có tiếng hô “Dừng lại “. Lương thấy đám người phía trước được lệnh bỏ túi xách xuống và ngồi xuống. Họ đă tới đích. Đám canh gác phía sau miệng hét thúc kẻ này đi nhanh, chân đá vào sườn kẻ khác.... Sau này, Lương nhớ lại ḿnh đă đi qua thôn Tu Tay. Theo anh, chừng 18 người đă bị kêu lên phía trước và bị quân CSVN tố có tội ác với nhân dân. Các nạn nhân bị lôi đi ngay. Chả ai biết ǵ về số phận họ v́ chẳng bao giờ gặp lại họ nữa. Những người khác được lệnh đi về phía lăng Đồng Khánh.


Sau một giờ đi họ lại được lệnh dừng, chia thành hai nhóm nhỏ và bắt đầu được lệnh đào hầm rănh. Họ đào mồ cho lớp người tới sau, chứ chính họ th́ chỉ vài mạng phải nằm ở đây mà thôi. Như một ác mộng kinh hoàng thăm viếng địa cầu, nhưng ác mộng không do quỷ ma nào cả mà do chính con người tạo ra.


Thoạt tiên, Lương nghĩ chắc ḿnh sẽ không qua khỏi. Dù vậy, anh và người lính trẻ vẫn cố t́m cách thoát thân, trong một hoàn cảnh có thể nói là tuyệt vọng. Hai người thất thần nh́n nhau, mắt mở lớn. Chung quanh Lương, đám người đói, lạnh, có kẻ đau, không ai dám quay về nh́n thành phố thân yêu đổ nát đang ch́m trong bóng tối sau lưng họ. Họ đào đă hai, ba tiếng, ai nấy im lặng gặm nhấm suy nghĩ của ḿnh. Hố đào là để trú ẩn và làm mương dẫn nước, người ta nói thế. Một tiếng nổ kèm với tiếng la vang lên. Thần chết vây bủa không gian. Tại sao ḿnh ở đây? Đa số họ là công giáo, chả ai quan tâm tới chính trị, một số do hoàn cảnh lịch sử phải bước vào lính như bao nhiêu thanh niên Việt Nam và trên khắp thế giới đến tuổi khác.


Sau khi đào xong một hố rănh, đám đông được lệnh đi tới một đụn cát để nghỉ đêm. Vài người bị dẫn đi. Một số la thét lên v́ sợ. Lương thấy người bạn ở cùng phố mà anh quen từ mấy năm nay bật khóc nức nở. Một người hoảng lên chạy quẩn để rồi bị bắt giữ lại. Lương hoảng hốt. Chân anh như điện giật. Anh nghĩ phải liều ngay. Chung quanh cán bộ gác đầy dẫy, nhưng nếu lao vào được bóng tối th́ có cơ thoát. Ác mộng tiếp tục. Người la. Kẻ bị đánh. Người rú lên cười kinh hoàng. Lương ở trong một đám khá đông đang bước đi. Đám người khập khễnh lê lết xuyên qua một đám cây rậm đi xuống đụn cát phía Nam. Khi họ xuống đồi, Lương lách người lao vào bóng tối. Một viên đạn rít bên tai. Anh phóng qua đám rừng, tai vẫn nghe tiếng đạn và tiếng la hét. Chỉ vài phút anh tới một con suối và chạy theo ḍng nước hướng về phía Đông. Anh đi suốt đêm, thỉnh thoảng bị khuất động bởi trái sáng thả từ máy bay và tiếng đại bác. Sáng ra thấy ḿnh băng qua một con đường sắt. Từ đó tiếp tục đi tới quốc lộ, ḷng mong ngóng sớm thoát được vùng tử địa. Xế chiều anh tới con đường phía Nam cách Phú Bài mấy dặm. Măi tới ngày 16 tháng 2 Lương mới về lại được thành và kể cho chị Kim những ǵ đă xảy ra....


Người ta đoán rằng đám nạn nhân từ Phú Cam tiếp tục đi nhiều ngày nữa về hướng Nam, xuyên qua một vùng cây cối khó đi. Măi tới trung tuần tháng 9/69 người ta mới t́m thấy xác họ trong một con suối nhỏ, khe Đá Mài, con suối chảy ra khe Đại đổ vào sông Hương.... Trong số 428 bộ cốt t́m được ở đó, rất ít được nhận diện. V́ không t́m thấy ở đâu khác, gia đ́nh họ Nguyễn (thân nhân người lính trẻ) tin rằng con ḿnh đă chấm dứt cuộc đời nơi khe suối này....



Mồ Tập Thể


Mồ tập thể được khám phá đầu tiên ở trường trung học quận Gia Hội, nằm bên cạnh khu dân cư. Sở dĩ cư dân gần đó biết được là v́ họ nghe tiếng súng và biết ở đó có mở ṭa án nhân dân. Một số người sau khi tham dự phiên ṭa đầu tiên đă liều trốn và may mắn thoát. Một số khác nhờ bơi qua sông. Trước ngôi trường có tất cả 14 hố gồm 101 tử thi. Sau ba ngày t́m kiếm, người ta khám phá thêm một số hố rải rác trước, sau, và bên hông trường, nâng tổng số tử thi lên 203, gồm xác thanh niên, người già, và phụ nữ.

 


...đang khai quật những mồ chôn tập thể


Trong số xác trẻ có 18 sinh viên. Một số trong bọn họ là những sinh viên đă bỏ vô bưng theo CSVN sau vụ đấu tranh chống chính quyền, nay trở về bắt các sinh viên khác theo họ. Khi CSVN chuẩn bị rút, các sinh viên được phép chọn hoặc vô bưng hoặc ở lại thành. Kẻ chọn ở lại bị giết và chôn tại trường. Những sinh viên khác của Gia Hội không theo CSVN cũng chịu chung số phận. Có hố vừa chôn được hai hoặc ba tuần; số c̣n lại rất mới. Những xác đầu tiên được lính Thủy Quân Lục Chiến Cộng Ḥa khám phá ngày 26/02/1968.


Trong số nạn nhân có cô Hoàng Thị Tam Tuy [các tên riêng và địa danh nào không đoán được sẽ ghi lại đúng như tác giả đă ghi - Người dịch], 26 tuổi, rất xinh, bán hàng ở chợ, nhà tại đường Tô Hiến Thành, Gia Hội. Bị quân CSVN, theo lời kể của chị/em cô, vào nhà bắt đi đưa vào trường điều tra ngày 22 tháng 2, rồi chẳng thấy trở về. Xác cô chân tay bị trói, miệng nhét đầy giẻ; ḿnh mẩy không thấy một vết thương nào. Xác cô nằm chung với bốn nạn nhân khác, mà hai trong số đó có bà con với chị/em dâu cô. Trong số các nạn nhân khác có bà góa Dương Thi Co, 55 tuổi, nghề bán guốc, 4 con. Bị bắt tại nhà ngày 22/2, đưa vào trường Gia Hội và bắn chết. Xác bà được các con nhận diện ngày 26/2. Người thứ ba là Lê Văn Thắng, 21 tuổi sinh viên ở Gia Hội. Anh bị bắt đi tham dự lớp huấn luyện ngày 14/2. Xác được gia đ́nh phát hiện và nhận diện ngày 16/3, chung hố với hai nạn nhân khác trong khuôn viên trường.


Người thứ tư là Trần Đ́nh Trọng, sinh viên kỹ thuật và mới lập gia đ́nh. Bị bắt ngày 6/2, t́m thấy xác ngày 26/2. Người thứ năm Nguyễn Văn Dong, cảnh sát 42 tuổi, bị bắt ngày 17/2 ở nhà một người quen và bị chôn sống, tay trói tại trường Gia Hội. T́m thấy xác ngày 26/2. Người thứ sáu là Lê Văn Phú, 47 tuổi, cảnh sát. Bị bắt tại gia ngày 8/2. Vợ con van xin CSVN cho phép chồng ở lại nhà, nhưng tối hôm đó bị hành quyết, bị bắn vào đầu, xác t́m thấy ngày 26/2, ở khuôn viên trường. Người thứ bảy, bà Nguyễn Thi Lao, buôn thúng bán bưng, 48 tuổi. Bị bắt trên đường lộ. Xác t́m thấy ở trường học, tay bị trói, miệng nhét đầy giẻ; ḿnh mẩy không bị một vết thương nào. Có lẽ bà bị chôn sống. Những xác khác t́m thấy gồm một đại úy cộng ḥa, hai trung úy, ba trung sĩ, và mấy viên chức hành chánh. Bốn xác người của CSVN.


Vùng mồ lớn thứ hai được khám phá gồm 12 hố với 43 tử thi ở Chùa Theravada, thường gọi là Tăng Quang Tự.


Vùng thứ ba tại Băi Dâu với 3 hố, 26 xác. Trong số nạn nhân ở Chùa có ông Phan Ban Soan, 60 tuổi, sinh tại Phú Vang, Thừa Thiên, nhà ở đường Tô Hiến Thành, có gia đ́nh, 5 con. Ông Soan làm nghề thợ may, trước có tham gia vụ Phật giáo chống tổng thống Diệm. Năm 1961 bị bắt v́ chống chính quyền, được thả năm 1967. Bị Việt cộng bắt đi tối 12/2 trên đường Chi Lăng, Gia Hội. Cộng sản phân công ông chôn xác chết và phân phối gạo. Xác ông tay bị trói, bị bắn xuyên đầu, dập cùng hố với 7 người khác.


Một người khác t́m thấy ở Chùa là ông Đặng Cơ, 46 tuổi, nghề thầu khoán, bị bắt tại gia ngày 6/2, t́m thấy xác ngày 26/2. Một người khác nữa là ông Ngô Thông, 66 tuổi, nhân viên hành chánh hồi hưu, bị bắt ngày 8/2, xác dập chung với 10 người khác. Một số tử thi có vết thương, một số tay bị trói giật cánh khỉ bằng dây thép gai, và một số miệng bị nhét giẻ.


Lần đầu tiên nói chuyện với đồng bào trong vùng tôi tưởng chỉ có 16 xác ở Chùa và 3 xác khác ở Băi Dâu. Nhưng bên hông và sau Băi Dâu có nhiều hố chôn. Tất cả ở đây chết v́ bị trả thù. Một vài người là thành viên CSVN nhưng bị giết v́ muốn ở lại thành. Họ đều là dân Gia Hội. Bốn tháng sau, tháng 8/68, tôi trở lại đây để t́m hiểu thêm uẩn khúc của những cái chết. Thân nhân các nạn nhân lẫn dân địa phương đều xác nhận những điểm trên.



...đám tang cho những mồ chôn tập thể


Tiết lộ về “mồ chôn tập thể” đầu tiên của chính quyền miền Nam là vào ngày 28/2/68, khi phát ngôn nhân chính phủ cho biết về một hầm “ghê gớm ở Cồn Hến gồm 100 xác công chức và quân nhân bị bắt khoảng đầu tháng”. Cũng theo phát ngôn viên, “các nạn nhân bị Việt cộng giết, thân xác họ không được lành lặn”. Cồn Hến nằm giữa sông Hương. Lúc đầu CSVN không màng chiếm Cồn. Nhưng sau nó trở thành một vị trí chiến lược cho việc tiến quân và rút quân từ Gia Hội ra vùng cát Đông Nam, vùng họ chiếm từ nhiều năm nay. Chính quyền xác nhận có 101 xác trong hầm. Theo đồng bào chạy thoát từ Cồn th́ trong số nạn nhân có nhiều người nam mang quân phục, một vài người bận đồ kaki của CSVN, một số khác bận áo ḍng ngắn, một vài người mang quân phục lính cộng ḥa và một vài người bận thường phục. Tôi hỏi nhân viên chính quyền địa phương về tên tuổi các nạn nhân th́ được trả lời là các tử thi không được nhận diện đầy đủ; họ xác nhận là không thể nào quả quyết tất cả đều bị hành quyết; một vài nạn nhân có thể đă chết trong khi giao tranh và vài xác khác, cũng theo họ, là của quân thù.


Vùng chôn thật sự thứ tư nằm sau Tiểu chủng viện, nơi dựng ṭa án nhân dân. Hai hầm chứa xác ba người Việt làm việc cho ṭa đại sứ Hoa Kỳ, hai xác người Mỹ ông Miller và ông Gompertz, nhân viên USOM, và xác một giáo sư trung học người Pháp bị giết v́ lầm là người Mỹ. Tất cả đều bị trói tay. Xác t́m thấy và liệm ngày 9/2. Xác hai người Mỹ và người Pháp được đưa về Đà Nẵng.


Quận Tả Ngạn, vùng thứ năm, do một quân nhân người Úc khám phá ngày 10/3/68. Ba hầm rănh với 21 tử thi, tất cả đều nam giới, tay bị trói, đạn bắn xuyên đầu và cổ. Một hầm khác, vùng thứ sáu, nằm cách Huế 5 dặm về hướng Đông, được khám phá ngày 14/3/68 do một cố vấn quân sự Mỹ cùng toán lính Việt đi kèm. Hai lăm xác, tất cả đều bị bắn vào đầu, tay trói giật cánh khuỷu. Nhờ một cánh tay của một nạn nhân nhô ra khỏi mặt đất mà hầm được khám phá.

Phía Nam Huế qua hoàng thành ở Nam Giao là nơi mộ phần của vua Tự Đức và Đồng Khánh. Nơi đây là vùng chôn tập thể thứ bảy. Đây đó trên dưới hai chục hầm, có cái giữa đất bằng, có cái dưới bụi cây, có cái bên bờ suối. Bên cạnh hầm

 

  

 

lớn, có những hố nhỏ chứa một, hai hoặc ba xác. Hầm đầu tiên được khai quật ngày 19/3/68, nhưng măi cho tới tháng 6/69 vẫn c̣n xác được tiếp tục phát hiện. Ban đầu c̣n dễ nhận dạng, vài xác mang quân phục, ngoài ra c̣n lại thường phục. Đặc biệt ở đây không có xác phụ nữ và trẻ con. Càng về sau việc nhận diện trở nên khó khăn. Dù vậy, cuối hè 1969, người ta cũng nhận diện được xác bố của ông thôn trưởng thôn Than Duong. V́ con trai vắng mặt nên cụ già bị bắt thay con. Về sau con đi t́m cha măi không gặp. Xác cha, đạn xuyên đầu và ót, được t́m thấy tháng 6/69.


Cũng trên đường hướng Nam đó là Tu viện Thiên An, nơi xảy ra trận chiến ác liệt trong thời gian cộng sản tấn công. Khi buộc phải triệt thoái, cánh quân chiếm đóng phía Nam thành phố rút lên núi và chiếm giữ ngôi Tu viện xây cách đây 26 năm, cách Huế 6 cây số hướng Nam, vào ngày 21/2. Lúc đó Tu viện đang là nơi lánh nạn cho hơn 3000 người. Mặc cho các cha ḍng van xin, cộng sản đă cho thần hỏa thiêu rụi ṭa nhà chính trong ṿng hai ngày. Các ṭa nhà bên là chỗ sinh kế của nhà ḍng cũng bị lửa đạn thiêu hủy. Thư viện gồm những pho thư khố và thủ bút quư thời vua chúa cũng chung số phận.


Cha Dom Romain Guillaume, một trong những linh mục của ḍng, bị một lính Việt cộng bắn vào vai lúc rời khỏi ṭa nhà cháy sau khi đă di tản hầu hết dân tỵ nạn. Một linh mục người Việt bị bắn vào chân. Khi rút khỏi đống gạch vụn Tu viện ngày 25/2, Cộng quân mang theo trên 200 người, trong đó 2 linh mục người Pháp, cha Urbain, 52 tuổi, và cha Guy, 48 tuổi, và một số tu sĩ linh mục, tập sinh, và người giúp việc. Những người này bị lọc bắt trong thời gian cộng quân chiếm Nhà ḍng và được dẫn đi về hướng Nam. Đa số bọn họ kết liễu cuộc đời gần chỗ lăng các vua. Tới tháng 6/69, tổng cộng 203 xác được khai quật. Trong số nạn nhân ở lăng Tự Đức có Đoàn Xuân Tong, 20 tuổi học sinh trung học, nhà ở làng Nguyệt Biểu, quận Hương Thủy. Em biến mất khỏi nhà ngày 06/2/68. Xác em được thân nhân t́m thấy bên cạnh lăng vua ngày 19/3/68, chôn chung với năm người khác cùng làng. Tại lăng Đồng Khánh có xác linh mục Urbain lấp cùng một hố với 10 người khác. Một người Việt khai quật xác cho tôi hay tay linh mục bị trói, ḿnh không có một vết thương, chứng tỏ có lẽ bị chôn sống. Xác ông liệm ngày 23/3/68 và sau đó được một linh mục đồng ḍng nhận diện. Vị linh mục này không thể xác nhận được là tay cha Urbain có bị trói hay không. Sự kiện không có xác đàn bà và con trẻ trong các hầm chứng tỏ các nạn nhân đă bị hành quyết dă man chứ không phải chết trong lúc giao chiến. Nếu bị pháo kích hoặc oanh tạc th́ chắc chắn đă có người bị thương và sống sót, hoặc có người chết không toàn thây. Và chắc rằng họ không phải bị chôn tại chỗ, bởi theo phong tục người chết luôn được mang về nhà ḿnh để hồn họ khỏi phải vất vưởng muôn kiếp. V́ thế nguyên tắc của đối phương là phải dấu nạn nhân thế nào để không bị khám phá, mà nếu có bị khám phá th́ cũng không nhận diện được là ai.


Ngoài thi hài cha Urbain, thi hài cha Guy ḍng Thiên An cũng được t́m thấy trong một hầm riêng ngày 27/3/68 gần lăng Đồng Khánh, với vết đạn ở đầu và cổ.


Vùng chôn thứ tám ở cầu An Ninh khám phá ngày 1/3 với 20 xác. Trong số tử thi có ông Trương Văn Triệu, trung sĩ lính Cộng ḥa. Trung sĩ Triệu có vợ và 5 con. Du kích cộng sản địa phương bắt ông ở trường mẫu giáo Kim Long, nơi ông ẩn trốn. Bị trói và dẫn đi. Nhờ dân chúng gần đó cho hay Việt cộng có chôn xác người gần cầu nên vợ ông đă t́m được xác chồng sau đó.


Xác ông Trần Hy, thuộc lực lượng Nhân Dân Tự Vệ, có vợ 4 con, cũng được lấp cùng hầm với ông Trieu. Ông bị bắt ngày 20/2 khi đang trốn trong nhà một láng giềng. Tay bị trói cánh khuỷu, người không có vết thương nào.


Vùng chôn thứ chín ở cửa Đông Ba, nơi xảy ra giao tranh lớn. Đây chỉ có một hầm 7 người bị bắt tại gia và giết sau đó. Trong đó có ông Ton That Quyen, 42 tuổi. Có gia đ́nh với 10 người con, bị bắt và dẫn đi hôm 8/2/68. Gia đ́nh t́m được xác ông ngày 5/5/68.


Địa điểm thứ mười là trường tiểu học An Ninh Hạ, một hầm 4 xác, trong đó có cảnh sát Tran Trieu Tuc, 52 tuổi, có vợ 7 con. Ông bị bắt tại nhà và mang đi ngày 05/2/68. Xác t́m được ngày 17/3/68 ở trường, mang vết thương ở đầu và cổ. Ba xác c̣n lại: một sinh viên, một quân nhân, và một cảnh sát.


Địa điểm thứ mười một là trường Van Chi, một hầm 8 xác. Trong đó có anh Le Van Loang, thợ máy, 35 tuổi, có vợ 6 con. Theo lời chị Loang, anh bị bắt đi dự lớp huấn luyện ngày 6/2. Khi bị dẫn đi, chị và các cháu chạy theo van xin nhưng vô hiệu. Họ ra lệnh mẹ con chị phải quay trở về. Xác anh được những gia đ́nh đi t́m xác người thân t́m thấy ngày 10/3/68 gần trường. Một vài xác bận quân phục, 4 xác chắc chắn là thường dân, trong đó có một sinh viên.


Địa điểm thứ mười hai ở chợ Thông, cách nội thành 2 cây số về hướng Tây. T́m được 102 xác. Trong đó có ông Nguyen Ty, 44 tuổi, thợ xây gạch, có vợ 6 con. Bị bắt ngày 2/2/68 và có lẽ bị giết ở chợ cùng với nhiều nạn nhân khác. T́m được xác ngày 1/3, tay bị trói, một viên đạn từ ót bung ra cửa miệng. Nhiều người khác cũng bị bắn, tay trói. Có nhiều xác đàn bà nhưng không có trẻ con.


Địa điểm thứ mười ba là vùng lăng Gia Long, ở Thiện Hàm bên bờ sông Hương, cách thành phố khoảng 16 cây số hướng Nam và cách Đàn Nam Giao cỡ 13 cây số Tây Nam. Gần 200 xác được t́m thấy dưới các đám cây và bụi rậm, gồm học sinh, sinh viên, nhân viên hành chính, quân nhân, và nhiều phụ nữ. 27 người thuộc làng lân cận. Sau khi an ninh tạm văn hồi, các bà đi t́m chồng đă khám phá ra địa điểm này. Lúc đầu, họ không dám đi quá xa. Nhưng hai ngày sau, 25/3/68, họ đụng vào một miếng đất mới đào trên triền một trong nhiều thung lũng nhỏ trong vùng. Xác người thân họ nằm nơi đây, tay bị trói cánh khuỷu, đạn bắn từ sau cổ xuyên qua miệng. Có nhiều rănh hầm nối nhau với nhiều xác. Một số nạn nhân từ nội thành, những người khác từ các làng lân cận. Một số là sinh viên từ Huế về nhà ăn tết.


Địa điểm thứ mười bốn nằm ở giữa Chùa Tăng Quang và Tường Vân, 2.5 cây số Tây Nam Huế. Ở đó có xác 4 người Đức, 3 bác sĩ và một bà vợ, t́m thấy ngày 2/4/68.


Địa điểm mười lăm ở Đông Gi, 16 cây số phía đông Huế trên đường ra bờ biển, t́m thấy ngày 1/4/68. 101 xác, đa số bị trói và miệng nhét đầy giẻ. Tất cả đều nam giới, trong đó có 15 sinh viên, nhiều quân nhân và nhân viên hành chính, già lẫn trẻ. Một vài xác không thể nhận diện được.


Tới tháng 5/68, tổng cộng có trên 900 xác người bị coi là mất tích đă được t́m thấy. Dĩ nhiên c̣n nhiều người chưa được tính.... Đầu năm 1969 nhiều địa điểm khác được khám phá.


Điểm chôn thứ mười sáu: Đầu tiên ở làng Vinh Thái. Địa điểm thứ hai ở làng Phú Lương. Địa điểm thứ ba ở làng Phú Xuân, tất cả thuộc quận Phú Thứ. Tất cả được t́m thấy trong khoảng từ tháng 1 tới tháng 8/69. Quận này với quận kế bên bị cộng sản chiếm nhiều năm và nơi đây xảy ra nhiều cuộc không tập kéo dài nhiều tháng. Măi tới đầu năm 1969 quân Cộng ḥa mới tiến vào được vùng này....


Ba làng này cách thị xă Huế chừng 15 cây số về các hướng Đông và Đông Nam, cách bờ biển từ 3 tới 5 cây. Theo các viên chức địa phương trên 800 xác được t́m thấy trong các vùng trên trong ṿng 6 tháng. Có hầm đào sâu, có hầm cạn. Nhiều xác chôn lâu rồi, quần áo đă mục.... Trong số nạn nhân người ta nhận diện được 16 học sinh trung học, theo học ở Huế nhưng về quê ăn tết. Cả nhân viên hành chính, đàn ông, đàn bà, trẻ em, già lẫn trẻ. Một số tay bị trói, đa số đều chôn cùng một hố. Vùng làng Vinh Thái đào được 135 xác; làng Phú Lương 22; và làng Phú Xuân đợt đầu 230, đợt sau, khám phá vào cuối năm 69, 375 xác. Dù thời gian qua lâu, nhưng nhờ lượng muối cao của đất vùng này giữ, đa số tử thi hăy c̣n có thể nhận diện được. Nhiều nhân viên hành chính và quân nhân, bị bắn ở cổ và đầu. Đa số nạn nhân thuộc nam giới. Một vài phụ nữ và trẻ em và một vài người mang nhiều loại vết thương. Có các linh mục, tu sĩ, và chủng sinh của các làng lân cận mất tích từ hơn 20 tháng kể từ biến cố tháng 2/68. Trong số 357 xác có cha Bửu Đồng, một cha sở quận Phú Vang và 2 chủng sinh. Cha Đồng dấu được trong túi sau bộ đồ ngủ đen trên người một hộp mắt kính trong đó có ba bức thư tiếng Việt. Một trong ba lá thư này, có bản chụp trưng bày ở nhà thờ chính ṭa Huế, ông viết cho bổn đạo ḿnh (thư t́m thấy trên thi thể ngày 8/11/69).


Các con cái yêu dấu:


Đây là bút tích cuối cùng để nhắc cho các con ghi nhớ bài phúc âm thánh Phêrô trên thuyền băo táp... (3 chữ đọc không ra) đức tin. Lời cầu chúc của Cha ngày đầu xuân cho mọi công việc Tông đồ của Cha giữa chúng con, nhớ... (hai chữ đọc không ra) khi sự sống của Cha sắp kết liễu theo ư Chúa.


Hăy mến Mẹ sốt sắng lần hột, tha mọi lỗi lầm của Cha, xin cám ơn Chúa với Cha, xin Chúa tha tội cho Cha và tận t́nh thương nhớ cầu nguyện cho Cha được sống trong tin tưởng, kiên nhẫn, trong khắc khổ để kiến tạo ḥa b́nh của Chúa Kitô và phục vụ tinh thần Chúa và mọi người trong Mẹ Maria. Xin cầu nguyện cho Cha b́nh an sáng suốt và can đảm cùng mọi sự đau khổ tinh thần, thể xác, và gởi mạng sống cho Chúa qua tay Đức Mẹ.


Hẹn ngày tái ngộ trên nước Trời.

Chúc lành cho chúng con.

(Chữ kư Cha Đồng)


Điểm chôn thứ mười bảy ở làng Thượng Ḥa, quận Nam Ḥa, bên bờ sông Tả Trạch, một phụ lưu sông Hương phía Nam lăng Gia Long. 11 xác được t́m thấy giữa các lùm cây trong tháng 7/69. Chỉ có ba xác nhận diện được là người của làng bên cạnh. Tất cả đều mang vết thương cổ và đầu, dấu chỉ của sự hành quyết.


Điểm thứ mười tám ở Thúy Thạnh, quận Hương Thủy, t́m thấy tháng 4/69, và ở làng Vinh Hưng, quận Vinh Lộc, t́m thấy tháng 7/69. Cả hai làng nằm trong vùng bị cộng sản chiếm từ lâu.... Trên 70 xác, nhiều xác không c̣n nhận diện được nữa, đa số là đàn ông, vài đàn bà, và trẻ con. Họ được nhận diện là người của các làng lân cận và vài người có thể bị chết v́ chiến cuộc bởi ḿnh họ mang nhiều vết thương và xác không toàn vẹn. Các nạn nhân khác bị bắn ở cổ và đầu.


Điểm thứ mười chín t́m thấy vào tháng 9/69 ở Khe Đá Mài, quận Nam Ḥa, một con suối nhỏ chảy vào Khe Đại, phụ lưu sông Hương. Khe chứa đầy xương người, có xương đủ bộ, có xương nằm riêng, sọ nằm riêng; tất cả được nước suối mài trắng tinh. Dân đi cưa gỗ t́m thấy địa điểm này. Nạn nhân có lẽ đă được chôn bên bờ suối trong mùa mưa và nước suối đă dần soi ṃn đất để lộ xác ra, cũng có thể là nạn nhân bị vất xuống suối, chứng cớ là các mảnh quần áo được t́m thấy dọc bờ hoặc ngay dưới khe, th́ việc chôn lấp nạn nhân có lẽ xảy ra trong các tháng mùa mưa (tháng hai, ba, tư). Và điều này có nghĩa là nạn nhân đă được dẫn thẳng tới đây hoặc được mang tới đây sau khi bị bắt một thời gian ngắn. Nếu chôn trong mùa suối khô, th́ sự kiện xảy ra trong khoảng từ tháng 06 tới 10.

 

... 40 năm sau, 2008, vào ngày Tết người dân Huế âm thầm tưởng niệm thân nhân đă bị VC sát hại - h́nh ảnh Nghĩa trang Ba Tầng (nơi chôn cất 400 nạn nhân khe Đá Mài tại Huế năm Mậu thân) với hàng chữ “40 năm bị VC sát hại dă man”. H́nh chụp sáng mồng một tết Nguyên đán Mậu Tư (có lẽ đă được một người can đảm viết trong đêm giao thừa). Công an đă đến hiện trường (nhưng không rơ đă xóa lời kết án đanh thép này chưa) - PV FNA từ Huế... và trong khi th́ VC tổ chức “Mừng chiến thắng Mậu Thân dối trá”,người dân Huế đă viết lại những ḍng này “40 NĂM BỊ VC SÁT HẠI DĂ MAN” trên tường thờ thân nhân.

 

Có lẽ để giữ bí mật khi rút lui Việt cộng đă thanh toán vội vàng các nạn nhân tại đây. Theo luật thông thường, đặc biệt là ở các vùng nông thôn, kẻ thù thường chôn cất xác đồng đội đàng hoàng. Tuy nhiên cũng có thể đây là xương và sọ của lính CSVN và Bắc Việt. Như vậy th́ số phận nào cho những người Phú Cam bị mất tích?


Nghiên cứu các phúc tŕnh quân sự Mỹ th́ không thấy có một cuộc không tạc lớn hoặc của máy bay B52 nào ở vùng trên, ngoại trừ trận chiến gần Lộc Sơn vào hạ tuần tháng 4/68, một địa điểm cách xa nơi đó chừng 10 cây số. Vả lại lập luận mang người bị chết v́ bom B52 băng qua vùng đất gập ghềnh để đưa về chôn ở suối này quả không vững. Đường lên núi dễ dàng hơn nhiều. Cũng vậy, nếu kẻ thù bị thiệt hại nặng ở trận Lộc Sơn và, theo thói quen sẵn có, đă mang xác 500 đồng đội đi th́ hẳn lộ tŕnh phải là hướng núi, gần và dễ di chuyển hơn nhiều, chứ làm sao mà chọn băng qua cánh rừng dày đặc khó xuyên qua được này.


Trong thời gian cuộc tấn công của cộng sản có xảy ra giao tranh lớn kéo dài từ Huế qua Bến Ngự, cầu Nam Giao tới gần và trong Nhà ḍng Thiên An. Nhưng đă không có tiếp tục đánh nhau lớn về mạn Nam, khi quân thù chọn đường rút lui lên núi, hướng trái với Đá Mài. Khe Đá Mài nằm cách thành phố 40 cây số về hướng Nam, bên ngoài vùng lăng tẩm; nơi này được coi là vùng không người, chỉ có cộng quân lai văng. Khe chứa 500 sọ. Địa thế cách trở, cách xa mọi văn minh bởi rừng đồi vách đá cho thấy người ta không muốn để số xác kia, xác của những người mang từ Huế ra bị khám phá, mà nếu có khám phá th́ cũng không nhận diện được. Nằm lẫn với xương là các mảnh quần áo thường, không phải kaki hay vải màu xanh bộ đội miền Bắc hoặc quân phục CSVN. Các sọ vỡ xương trán tất thảy cho thấy bị đánh bởi một vật ǵ nặng. Một số sọ khác không thấy vết tích ǵ ở xương, đây có thể là nạn nhân chết trong lúc giao tranh. Lần lượt tất cả hài cốt được chuyển về thành phố, nơi họ ra đi và tống táng trong an b́nh.... Sau khi Đá Mài được khám phá, vẫn c̣n vài trăm người mất tích. Trong số đó có một số sinh viên, điển h́nh là các anh Ngô Anh Vũ, Nguyễn Văn Bích. Cả hai bị bắt ở nhà thờ Phủ Cam. Những người khác, viên chức hành chánh, thành viên chính đảng, thanh niên công giáo, Phật giáo, tu sinh, giáo chức, và quân nhân. Họ bị bắt đi, biệt tăm tin tức.


Bên cạnh các hầm chôn tập thể, c̣n có các nạn nhân lẻ tẻ, bị giết tức tưởi. Có khi cả gia đ́nh bị tiêu diệt như gia đ́nh ông Nam Long, thợ buôn, bị bắn cùng vợ và 5 con tại nhà. Ông Ngô Bá Nhuận bị bắn dă man trước rạp chiếu bóng địa phương, và ông Phan Văn Tường, lao công, bị giết ngoài nhà ông với bốn đứa con....



Elje Vannema

The Vietcong Massacre at Hue. Vintage Press, New York, 1976

(E.M.)
CoVang 2/14/2012 MẬU THÂN 68,

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính