Vẽ rắn thêm chân.

 

Đoàn Xuân Thu

 

 

Có những bài viết đọc qua tưởng là tiểu sử, nhưng coi kỹ lại chỉ là một màn “vẽ rắn thêm chân” – thêu dệt, tô son, trét phấn đánh bóng quá tay để dựng nên một chân dung cách mạng 30 cho tên trốn quân dịch Trịnh Công Sơn.

 

Chỉ vài trăm chữ mà sai từ thuật ngữ lịch sử, hệ thống giáo dục cho đến bối cảnh chính trị. Không phải sai v́ lầm lẫn vô ư, mà sai một cách cố ư theo một hướng có lợi cho CS: biến một nhạc sĩ lừng khừng thời cuộc thành “trí thức đấu tranh tích cực”.

 

Bài này xin lần lượt vạch rơ từng điểm.

 

 

I. Tay bồi bút viết bài nầy khẳng định: năm 1961 Trịnh Công Sơn thi vào Đại học Sư phạm Quy Nhơn để “tránh thi hành nghĩa vụ quân sự”.

 

Nghe qua tưởng hợp lư, nhưng xét kỹ là đánh tráo khái niệm.

 

Dưới thời Đệ Nhất Cộng Ḥa của Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm, chế độ áp dụng là quân dịch.

 

Cụm từ “nghĩa vụ quân sự” chỉ phổ biến sau 1975, khi chính quyền CS mới thống nhất thuật ngữ theo hệ thống miền Bắc. Đem chữ “nghĩa vụ quân sự” gán ngược về năm 1961 là một cách viết theo ngôn ngữ hậu chiến, không phải ngôn ngữ của bối cảnh lịch sử đó.

 

Chưa hết. Thời ấy, giáo chức – kể cả giáo viên tiểu học– được hoăn dịch. Giáo sư trung học nếu có thụ huấn quân sự th́ vẫn có thể biệt phái về Bộ Giáo Dục tiếp tục giảng dạy. V́ vậy, nói vào sư phạm để “tránh quân dịch” là lập luận yếu. Muốn chứng minh th́ phải đưa ra tài liệu cụ thể, không thể chỉ suy đoán.

 

 

II. Điểm thứ hai nghiêm trọng hơn: gọi “Đại học Sư phạm Quy Nhơn năm 1961”.

Năm 1961 làm cái quái ǵ mà có Đại học ở Quy Nhơn?!

 

Thực tế, giai đoạn đó tồn tại Trường Sư phạm Quy Nhơn, chương tŕnh đào tạo một năm, tuyển sinh với bằng Tú tài 1. Sau khi tốt nghiệp, giáo sinh ra dạy tiểu học.

 

Do đó, gắn cho năm 1961 danh xưng “đại học” là phóng đại.

 

Lại c̣n thêm chuyên ngành “Tâm lư giáo dục trẻ em” như một phân khoa riêng biệt – trong khi “Tâm lư giáo dục” chỉ là một môn học bắt buộc trong chương tŕnh đào tạo nghề giáo – th́ càng là thêu dệt.

 

Nếu Trịnh Công Sơn chỉ đậu Tú tài I và không có Tú tài II, th́ ông đủ điều kiện vào Sư phạm Quy Nhơn, nhưng không thể gọi là “đại học” theo nghĩa đầy đủ. Viết như thế là nâng cấp học vị bằng ngôn từ.

 

 

III. Tay bồi bút nầy khẳng định năm 1968 Trịnh Công Sơn “gặp bộ đội Cụ Hồ trong 26 ngày đêm cách mạng giải phóng Huế”.

 

Cách diễn đạt này mặc nhiên đặt Trịnh Công Sơn vào vị trí đồng hành với CS

 

Nhưng biến cố Tết Mậu Thân tại Huế là một chương đẫm máu, sau này được ghi lại trong “Giải khăn sô cho Huế” của Nhă Ca. Nhiều nhân chứng mô tả không khí kinh hoàng, bắt bớ, xử tử tại các địa điểm như Khe Đá Mài. Trong hoàn cảnh ấy, nhiều người chỉ t́m cách lánh nạn, không ai đủ b́nh thản để “gặp gỡ” theo nghĩa “hữu nghị”.

 

Viết “gặp bộ đội” nghe như một cuộc hội kiến lịch sử, trong khi thực tế chiến tranh là hỗn loạn và sinh tồn.

 

 

IV . Tay bồi bút nầy tiếp tục khẳng định năm 1970 Trịnh Công Sơn tham gia phong trào Tự quyết với các nhân vật tranh đấu Huế.

 

Ở đây cần phân biệt giữa thân hữu, quen biết và tham gia tổ chức chính trị. Thập niên 1960-1970, nhiều văn nghệ sĩ có giao du với giới tranh đấu, nhưng điều đó không mặc nhiên chứng minh họ là thành viên tích cực. Nếu có bằng chứng, hăy đưa ra. Nếu không, đó là suy diễn.

 

Trong khi đó, h́nh ảnh phổ biến về Trịnh Công Sơn giai đoạn ấy là một nhạc sĩ nổi tiếng với tập “Ca khúc Da Vàng”, do Khánh Ly tŕnh bày. Ông ta cóp theo Bob Dylan của Mỹ viết nhạc phản chiến. Nhưng phản chiến không đồng nghĩa với hoạt động cách mạng có tổ chức.

 

 

V. Việc Trịnh Công Sơn làm thân với Lưu Kim Cương (là sĩ quan cấp đại tá của Không quân VNCH) là chuyện nhiều người biết. Khi ông đại tá này tử trận Tết Mậu Thân năm 1968 ở vành đai phi trường Tân Sơn Nhứt, Trịnh Công Sơn có viết “Hát cho một người nằm xuống”.

 

Điều này cho thấy mối g cá nhân, không phải lập trường ư thức hệ. Một người có thể vừa viết nhạc phản chiến, vừa thương tiếc một sĩ quan VNCH. Con người phức tạp hơn các khẩu hiệu.

 

 

VI. Sau khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng ngày 30/4/1975, Trịnh Công Sơn lên Đài Phát thanh kêu gọi văn nghệ sĩ ở lại hợp tác với chính quyền mới.

 

Đây là sự kiện có ghi âm. Nhưng cần đặt câu hỏi: đó là hành động tự nguyện đầy lư tưởng, hay phản ứng của một sớm đầu tối đánh, đứng trước cơ hội kiếm ăn, kiếm nhậu? Khi chính quyền thay đổi trong vài giờ, mỗi người có cách chọn lựa khác nhau. Phán xét cần dựa trên hoàn cảnh cụ thể.

 

Sau đó Trịnh Công Sơn vẫn bị đưa đi lao động cải tạo ngắn hạn. Về sau, ông ta có liên hệ với trùm VC Vơ Văn Kiệt (Sáu Dân) lợi dụng lẫn nhau. Điều này phản ảnh thực tế chính trị hậu 1975: chính quyền mới tận dụng những gương mặt văn nghệ nổi tiếng để đánh bóng bản thân hầu che dấu học vấn chỉ tới bậc tiểu học của trùm VC Sáu Dân Vơ Văn Kiệt.

 

 

VII. Điều đáng phê phán không phải là khen hay chê Trịnh Công Sơn. Điều đáng nói là cách viết biến tiểu sử thành tuyên truyền.

 

– Đổi thuật ngữ lịch sử để hợp ư thức hệ.

– Nâng cấp cơ sở đào tạo thành “đại học” để tăng trọng lượng trí thức.

– Gán động cơ “tránh nghĩa vụ” mà không dẫn chứng.

– Biến giao du cá nhân thành hoạt động cách mạng có tổ chức.

 

Đó chính là “vẽ rắn thêm chân”.

 

Trịnh Công Sơn, như nhiều văn nghệ sĩ thời chiến, là một nhân vật phức tạp: viết nhạc phản chiến, sống giữa hai lằn đạn, có bạn bè nhiều phía, có lúc lên tiếng hùa theo thời cuộc. Ông ta không cần ai thần thánh hóa. Và cũng không cần ai bôi nhọ. Trịnh Công Sơn chỉ cần ai cho tiền ăn nhậu v́ ông ta nghiện rượu!

 

Lịch sử cần sự chính xác. Một xă hội trưởng thành phải chấp nhận sự đa diện của con người, thay v́ ép họ vào khuôn mẫu anh hùng hay phản bội.

 

Khi viết tiểu sử mà sai thuật ngữ, sai hệ thống giáo dục, suy diễn động cơ, th́ đó không c̣n là nghiên cứu – mà là tô vẽ.

 

Vẽ rắn thêm chân, rốt cuộc chỉ làm lộ ra… cái chân giả.

 

 

Đoàn Xuân Thu

Melbourne.

 

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính