Văn chương hạ giới rẻ như bèo.

 

Đoàn Xuân Thu

 

 

“Văn chương hạ giới rẻ như bèo” là một câu nói của Tản Đà mà người đọc văn chương Việt Nam nhiều thế hệ sau vẫn c̣n nhắc lại. Nghe qua tưởng như chỉ là một lời than về tiền bạc của một nhà thơ nghèo, nhưng đọc kỹ hơn, người ta thấy trong câu nói ấy có cả một nỗi niềm về thân phận người cầm bút: viết văn th́ cực, kiếm sống bằng chữ lại càng cực hơn, c̣n giá trị của chữ nghĩa trong đời sống nhiều khi không tương xứng với công sức người viết bỏ ra.

 

Điều thú vị là Nguyễn Hiến Lê, trong bài “Văn chương hạ giới”, thuộc “Mười câu chuyện văn chương”, đă trở lại với chính lời than ấy của Tản Đà. Ông viết: “Khoảng bốn chục năm trước, cụ Tản Đà phàn nàn rằng ‘văn chương hạ giới rẻ như bèo’.” Nguyễn Hiến Lê không chỉ nhắc lại một câu thơ nổi tiếng. Ông lấy nó làm điểm khởi đầu để nh́n rộng hơn về nghề viết, về đồng tiền, về độc giả, về thị trường sách báo và, sâu xa hơn, về vị trí của văn chương trong xă hội.

 

Tản Đà nói câu ấy trong Hầu Trời. Trong câu chuyện tưởng tượng đầy chất ngông của ḿnh, nhà thơ được lên Trời đọc văn cho Trời và chư tiên nghe. Văn chương của ông được tán thưởng, nhưng khi trở về “hạ giới”, ông lại gặp một thực tế hoàn toàn khác. Ở dưới trần, viết văn chẳng phải là con đường làm giàu. Ông than:

“Văn chương hạ giới rẻ như bèo. Kiếm được đồng lăi thực rất khó. Kiếm được thời ít, tiêu thời nhiều. Làm măi quanh năm chẳng đủ tiêu.”

 

Bốn câu thơ nghe vừa buồn vừa hài. Tản Đà vốn là người có cái “ngông” rất riêng. Ông dám lên tận Trời để đọc văn, dám nói chuyện với Trời như nói chuyện với người quen. Nhưng đằng sau cái ngông ấy lại là một sự thật rất đời: nhà văn cũng phải ăn, phải mặc, phải trả tiền nhà, phải sống qua ngày. Mà văn chương th́ không phải lúc nào cũng đủ nuôi thân.

 

Cho nên “văn chương hạ giới rẻ như bèo” trước hết không có nghĩa là văn chương không có giá trị. Nó nói về giá trị kinh tế của văn chương. Một tác phẩm có thể rất hay, rất có ư nghĩa, có thể được người đời nhiều năm sau nhắc tới, nhưng người viết ra nó lúc c̣n sống chưa chắc đă kiếm đủ tiền để sống.

 

Đó chính là cái nghịch lư muôn thuở của nghề cầm bút.

 

Nguyễn Hiến Lê nh́n thấy nghịch lư ấy và đi xa hơn Tản Đà. Ông không chỉ kể lại lời than của một thi sĩ mà c̣n đem so sánh hoàn cảnh của Tản Đà với một nhà văn khác: Vũ Trọng Phụng. Nếu Tản Đà than văn chương kiếm được ít, th́ cuộc đời Vũ Trọng Phụng cho thấy một cảnh ngộ c̣n cay đắng hơn. Một nhà văn tài năng, viết nhiều, viết mạnh, viết những tác phẩm sau này trở thành những tác phẩm quan trọng của văn học Việt Nam, nhưng lúc sinh thời lại sống trong cảnh nghèo khó và bệnh tật.

 

Có những lúc Vũ Trọng Phụng phải ăn khoai, ăn ngô, ăn cháo, thậm chí nhịn đói mà vẫn phải viết. Cây bút không phải lúc nào cũng là chiếc ch́a khóa mở cửa cho người viết bước vào đời sống sung túc. Nhiều khi nó lại là thứ buộc người viết phải làm việc cho đến kiệt sức.

 

Như vậy, từ Tản Đà đến Vũ Trọng Phụng, câu chuyện không c̣n đơn giản là “nhuận bút thấp”. Nó trở thành câu chuyện về thân phận người cầm bút.

 

Nhưng Nguyễn Hiến Lê c̣n có một nhận xét đáng chú ư khác. Ông gọi lời than “văn chương hạ giới rẻ như bèo” là một “lời chung”, nếu hiểu “hạ giới” trước hết là nước Việt. Nói cách khác, ông không xem câu than ấy là một chuyện riêng của Tản Đà. Nó phản ảnh một hoàn cảnh rộng hơn của văn chương Việt Nam.

 

Và khi nh́n sang những nền văn học khác, Nguyễn Hiến Lê cho thấy giá trị kinh tế của văn chương không phải lúc nào cũng giống nhau. Có những thời đại, có những xă hội, có những tác giả mà tác phẩm văn chương được trả giá rất cao. Có nơi người viết có thể sống bằng nghề viết khá thoải mái; nhưng cũng có nơi người cầm bút phải vật lộn với miếng cơm manh áo.

 

Điều đó cho thấy một điều tưởng đơn giản mà không phải ai cũng để ư: giá trị tinh thần và giá trị thương mại của một tác phẩm là hai chuyện khác nhau.

 

Một bài văn có thể đáng giá về tư tưởng nhưng không bán được nhiều bản. Một cuốn sách có thể bán chạy nhưng chưa chắc đă tồn tại lâu trong kư ức văn học. Một nhà văn có thể nổi tiếng khi c̣n sống nhưng rồi bị quên lăng. Ngược lại, có người lúc sinh thời chẳng mấy ai chú ư, nhưng nhiều chục năm sau tác phẩm lại được t́m đọc.

 

Chữ nghĩa v́ vậy có một thứ giá rất lạ. Giá của nó không chỉ nằm trên b́a sách, trong tiền nhuận bút hay số lượng bản in. Có khi cái giá thật của một tác phẩm chỉ được lịch sử trả sau khi tác giả đă qua đời.

 

Tản Đà nh́n vấn đề bằng con mắt của một thi sĩ. Ông than mà vẫn ngông, buồn mà vẫn có nét hài. Ông đưa chuyện văn chương lên tận Trời để nói một chuyện rất trần gian: người viết cũng cần tiền để sống.

 

Vũ Trọng Phụng lại cho thấy mặt bi thảm của vấn đề bằng chính cuộc đời ḿnh. Cái nghèo, bệnh tật và áp lực phải viết biến nghề văn thành một cuộc vật lộn.

 

C̣n Nguyễn Hiến Lê đứng ở một vị trí khác. Ông vừa là nhà văn, vừa là nhà biên khảo, vừa là người có nhiều trải nghiệm với nghề xuất bản. V́ vậy, ông nh́n nghề viết như một hoạt động nằm trong cả một hệ thống gồm người viết, nhà xuất bản, báo chí, độc giả và thị trường. Với ông, văn chương không chỉ là chuyện “cảm hứng” mà c̣n là một nghề nghiệp trong đời sống thực tế.

 

Ba người, ba thời đại, ba giọng nói, nhưng gặp nhau ở một điểm: người viết sống giữa một nghịch lư.

 

Người đọc có thể yêu quư văn chương, nhưng t́nh yêu ấy không phải lúc nào cũng biến thành tiền nhuận bút. Người đọc có thể khen một bài viết hay, nhưng lời khen không trả được tiền giấy, tiền in, tiền điện. Nhà văn có thể bỏ cả tháng trời để viết một tác phẩm, trong khi người đọc chỉ mất vài chục phút để đọc xong.

Ngày nay, câu chuyện ấy lại càng có một phiên bản mới.

 

Thời Tản Đà, văn chương “rẻ như bèo” v́ tiền nhuận bút ít. Thời báo chí phát triển, nhà văn và nhà báo vẫn phải lo chuyện độc giả, số lượng phát hành, quảng cáo và tiền bản quyền. C̣n thời Facebook, chữ nghĩa đôi khi lại bước sang một cảnh giới khác: đọc miễn phí gần như đă trở thành chuyện b́nh thường.

 

Một người có thể mất nhiều giờ, nhiều ngày để viết một bài. Người khác chỉ cần vài giây bấm nút “copy”, đem sang trang khác, rồi đăng lại như của ḿnh. Người viết có khi chẳng nhận được một đồng, thậm chí đến cái tên cũng bị cố ư bỏ đi.

 

Thành ra, câu “văn chương hạ giới rẻ như bèo” nếu đem áp vào thời nay đôi khi c̣n có một nghĩa mới: chữ nghĩa không những rẻ mà có lúc c̣n bị xem như thứ có thể lấy miễn phí.

 

Nhưng cũng chính ở đây, người viết phải tự hỏi: ḿnh viết để làm ǵ?

 

Nếu viết chỉ để kiếm tiền th́ nghề văn quả thật dễ làm người ta thất vọng. Nhưng nếu viết để lưu lại một kư ức, chia sẻ một hiểu biết, kể lại một câu chuyện, giữ lại một tiếng nói của một thế hệ, th́ giá trị của bài viết lại nằm ở nơi khác.

 

Tản Đà có thể không giàu v́ văn chương. Vũ Trọng Phụng cũng không được sống lâu để hưởng những giá trị mà hậu thế dành cho tác phẩm của ông. Nguyễn Hiến Lê cũng từng nh́n rất rơ cái nghịch lư ấy. Nhưng họ vẫn viết.

 

Có lẽ đó mới là điều đáng nói nhất.

 

Người cầm bút đôi khi biết rất rơ rằng chữ nghĩa không làm ḿnh giàu, nhưng vẫn không bỏ được cây bút. Bởi có những thứ người ta viết không phải v́ tiền, mà v́ trong ḷng có một điều cần nói. Có một kư ức cần giữ. Có một sự thật cần ghi lại. Có một thế hệ cần được kể lại cho thế hệ sau.

 

Từ “văn chương hạ giới rẻ như bèo” của Tản Đà đến cách Nguyễn Hiến Lê phân tích nghề viết, ta thấy một ḍng suy nghĩ liên tục kéo dài qua nhiều thế hệ. Tản Đà nói bằng tiếng than của thi sĩ. Vũ Trọng Phụng nói bằng cuộc đời của một nhà văn nghèo. Nguyễn Hiến Lê nh́n bằng con mắt của người từng trải và của một nhà biên khảo.

 

C̣n hôm nay, người viết trên Facebook có thể cười mà nói rằng: thời nay văn chương chẳng những “rẻ như bèo”, mà nhiều khi “đọc chùa, lấy chùa, rồi c̣n quên luôn tên tác giả.”

 

Ấy vậy mà người ta vẫn viết.

 

Bởi rốt cuộc, có lẽ văn chương không sống nhờ cái giá người đời trả cho nó trong ngày hôm nay. Văn chương sống lâu hay ngắn c̣n tùy vào việc nó có giữ được một phần tâm hồn của thời đại hay không.

 

Tản Đà đă để lại câu “văn chương hạ giới rẻ như bèo”. Nguyễn Hiến Lê đă nhặt câu ấy lên, soi nó dưới một ánh sáng rộng hơn. Và đến hôm nay, đọc lại hai người, người cầm bút có thể vừa cười vừa thở dài.

 

“Chữ nghĩa có thể rẻ. Nhưng công sức, kư ức và tấm ḷng của người viết th́ không dễ định giá bằng tiền.”

 

 

Đoàn Xuân Thu

Melbourne.

 

Mời đọc thêm bài: Facebook: viết cực, đọc chùa, rồi đôi khi c̣n bị “bứng” luôn tên tác giả.

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính