Trường Bộ Binh Thủ Đức

đồi Tăng Nhơn Phú hồi ức một thời giày saut áo trận.

 

Đoàn Xuân Thu

 

 

Nói tới Trường Bộ Binh Thủ Đức mà chỉ nói tới một quân trường th́ chưa đủ. Với những người từng bước qua cổng trường, Thủ Đức c̣n là một đoạn đời. Đó là nơi một thanh niên đang sống cuộc đời dân sự được đưa vào khuôn phép quân đội, từ từ học cách đứng nghiêm, chào kính, mang ba lô, cầm súng, hành quân và, quan trọng hơn hết, học cách chịu trách nhiệm.

 

Tên Thủ Đức v́ vậy đă trở thành một kư ức riêng của nhiều thế hệ sinh viên sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng ḥa. Người ta có thể quên một bài học chiến thuật, quên một buổi học lư thuyết, nhưng rất khó quên những ngày tháng sống chung với đồng đội, những buổi sáng thức dậy theo tiếng c̣i tu hít, những trưa nắng cháy trên thao trường và những đêm nằm nghe tiếng gió ngoài doanh trại.

 

Trường tọa lạc trên vùng đồi Tăng Nhơn Phú, một địa h́nh thích hợp cho việc huấn luyện quân sự. Đồi, dốc, đất đỏ và những khoảng đất rộng tạo thành một môi trường khác hẳn đời sống thành thị. Người thanh niên bước vào đó phải làm quen với một thứ nhịp sống mới: giờ giấc chính xác, mệnh lệnh rơ ràng, kỷ luật nghiêm minh và những cuộc hành quân không phải muốn nghỉ lúc nào th́ nghỉ.

 

Có lẽ chính địa h́nh ấy đă làm cho cái tên Thủ Đức trở nên đặc biệt trong kư ức của người lính.

 

Ở ngoài đời, một con dốc chỉ là một con dốc. Nhưng ở Thủ Đức, một con dốc có thể là một bài học về sức chịu đựng. Một khoảng đất trống có thể trở thành thao trường. Một đêm tối có thể trở thành bài học về canh gác, tuần tra và sự cảnh giác. Một chiếc ba lô nặng trên vai không chỉ thử sức đôi chân mà c̣n thử luôn ư chí của người mang nó.

 

Sinh viên sĩ quan ngày ấy không phải chỉ học bằng sách vở. Họ học bằng mồ hôi.

 

Buổi sáng có thể bắt đầu bằng tiếng c̣i tập hợp. Đội ngũ chỉnh tề, quân phục gọn gàng, giày saut (sô) đánh bóng. Những người mới hôm qua c̣n là học sinh, sinh viên, giáo viên, công chức hay đủ mọi nghề nghiệp dân sự, hôm nay đứng thành hàng theo đơn vị. Người trước cách người sau bao nhiêu bước, quay trái, quay phải lúc nào, tất cả đều phải làm theo tiếng khẩu lệnh.

 

 

Trong quân đội, chuyện nhỏ cũng phải học cho đúng.

 

Bởi người ta không thể đ̣i hỏi một người sẽ chỉ huy thuộc cấp trong chiến trường nếu chính ḿnh c̣n chưa biết tuân hành kỷ luật.

 

Rồi tới những giờ học chiến thuật.

 

Sinh viên sĩ quan được làm quen với cách tổ chức một đơn vị, cách di chuyển, triển khai đội h́nh, lợi dụng địa h́nh và phối hợp với đồng đội. Những điều trên giấy khi đưa ra thao trường lại trở thành chuyện hoàn toàn khác. Một mệnh lệnh nói ra phải được hiểu; một đội h́nh triển khai phải đúng; một người đi sai vị trí có thể ảnh hưởng tới cả tổ, cả tiểu đội, trung đội.

 

Đó cũng là lúc người thanh niên bắt đầu hiểu rằng làm sĩ quan không phải chỉ là mang một cấp bậc trên vai. Đằng sau cấp bậc là trách nhiệm.

 

Rồi tới tác xạ. Tiếng súng trên thao trường có một âm thanh rất riêng. Với người chưa từng nghe, đó chỉ là tiếng nổ. Nhưng với sinh viên sĩ quan, từng tiếng nổ gắn với những bài học về tư thế, nhắm bắn, thao tác và kỷ luật an toàn. Khói súng, mùi thuốc súng, tiếng hô của huấn luyện viên và tiếng đạn nổ liên hồi ḥa thành một thứ âm thanh mà nhiều năm sau vẫn có thể bất chợt trở về trong kư ức.

 

Có những người sau này ra chiến trường mới hiểu hết giá trị của những giờ huấn luyện tưởng như khô khan ấy.

 

Thủ Đức cũng dạy người ta một thứ mà sách vở không dạy được: sống với đồng đội.

 

Một doanh trại có đủ hạng người. Người quê Sài G̣n, người từ miền Tây, người miền Trung, người từ các tỉnh cao nguyên hay miền Đông. Mỗi người một giọng nói, một tính t́nh, một hoàn cảnh gia đ́nh. Vào quân trường rồi, tất cả cùng mặc một màu áo, ăn cùng giờ, ngủ cùng nơi, tập cùng một bài và cùng chịu những mệnh lệnh như nhau.

 

Có người khỏe, người yếu. Có người nhanh nhẹn, người chậm chạp. Có người vốn đă quen với thể thao, có người trước đó chưa từng chạy một quăng đường dài. Nhưng trong quân trường, người này phải biết giúp người kia. Bởi ra chiến trường, không ai chiến đấu một ḿnh.

 

T́nh đồng đội nhiều khi bắt đầu từ những chuyện rất nhỏ: chia nhau một ngụm nước, kéo giùm chiếc ba lô, nhắc bạn chỉnh lại quân phục, đỡ một người vừa bị trẹo chân sau cuộc hành quân. Những chuyện tưởng nhỏ ấy về sau lại trở thành những kỷ niệm khó quên nhất.

 

Và rồi có những đêm trên đồi Tăng Nhơn Phú.

 

Ban ngày thao trường đầy nắng. Ban đêm cảnh vật thay đổi hoàn toàn. Người lính học cách quan sát trong bóng tối, nghe tiếng động chung quanh, giữ im lặng và biết rằng trong quân đội, một người đang làm nhiệm vụ th́ không thể ngủ quên.

 

Có lẽ trong những giờ phút yên tĩnh như vậy, bốn chữ “Cư An Tư Nguy” mới thật sự thấm vào người học.

 

Không cần ai giảng dài ḍng. Không cần phải nói nhiều. Người sinh viên sĩ quan đang đứng gác giữa đêm hiểu rằng ḿnh đang ở trong quân trường, nhưng một ngày nào đó có thể đứng ở một nơi khác, với một hoàn cảnh khác, và khi ấy không c̣n là bài tập nữa.

 

Đó là sự khác biệt giữa thao trường và chiến trường.

 

Thao trường cho phép người ta sửa sai.! Chiến trường th́ không phải lúc nào cũng cho cơ hội thứ hai.

 

 

Thao trường đổ mồ hôi. Chiến trường bớt đổ máu!

 

Bởi vậy, những ngày tháng ở Thủ Đức, xét cho cùng, không chỉ là một thời gian huấn luyện quân sự. Đó c̣n là quá tŕnh biến đổi một người thanh niên. Từ một đời sống tương đối tự do, họ bước vào một môi trường mà mỗi ngày đều có giờ giấc, nhiệm vụ và trách nhiệm. Từ chỗ chỉ lo cho bản thân, họ phải học cách nghĩ tới đơn vị và những người cùng chiến tuyến.

 

Nhưng Thủ Đức không chỉ có những giờ phút căng thẳng.

 

Trong kư ức của người lính, bên cạnh tiếng c̣i, tiếng kèn và tiếng súng vẫn có tiếng cười.

 

Có những lúc anh em ngồi với nhau sau giờ huấn luyện, kể chuyện quê nhà. Người nhớ cha mẹ, người nhớ vợ con, người nhớ người yêu. Có anh mới rời gia đ́nh chưa bao lâu mà đă nhớ món ăn của má. Có người nhớ con đường trước nhà, nhớ quán cà phê quen, nhớ một cô gái nào đó đang chờ ḿnh ngoài đời. Tuổi trẻ là vậy.

 

Chiến tranh có thể làm người ta cứng rắn hơn, nhưng không thể làm người ta hết nhớ thương.

 

Những thanh niên ngày ấy mang trên vai chiếc ba lô quân đội, dưới chân đôi giày sô, trước mặt là thao trường; nhưng trong ḷng vẫn là một quê nhà rất riêng của mỗi người.

 

Rồi khóa học kết thúc. Ngày rời Thủ Đức, những người từng đứng chung hàng bắt đầu tỏa về những đơn vị khác nhau. Có người về bộ binh, có người về các đơn vị khác; có người tiếp tục con đường quân nghiệp. Và cũng có người từ ngày ấy bước thẳng vào cuộc chiến mà không biết tương lai của ḿnh sẽ ra sao.

 

Có những người trở về sau chiến tranh. Có những người mất một phần thân thể. Và có những người không bao giờ trở lại. Đó là phần đau thương nhất của kư ức Thủ Đức.

 

Nhiều năm trôi qua, người ta có thể thay đổi nơi ở, thay đổi nghề nghiệp, thay đổi cuộc sống. Những quân trường của một thời cũng không c̣n nguyên vẹn như ngày xưa. Nhưng kư ức th́ không dễ mất.

 

Chỉ cần nghe một tiếng kèn quân trường, nh́n một đôi giày sô cũ, nghe tiếng súng ngoài thao trường hay bắt gặp một người bạn đồng khóa, cả một thời tuổi trẻ có thể trở về trong chớp mắt.

 

Đồi Tăng Nhơn Phú v́ thế không chỉ là một địa danh trên bản đồ.

 

Đối với những người từng học ở đó, nó là nơi tuổi trẻ đă được tôi luyện bằng mồ hôi, kỷ luật và t́nh đồng đội. Ở đó có những buổi sáng đầy nắng, những buổi chiều mệt ră rời, những đêm đứng gác và những câu chuyện kể bên nhau sau một ngày huấn luyện.

 

Và trên tất cả là một thế hệ thanh niên đă đi qua Thủ Đức rồi đi vào một cuộc chiến chống CSBV xâm lăng Miền Nam.

 

Ngày nay, khi nhắc lại Trường Bộ Binh Thủ Đức, người ta không chỉ nhớ tới một quân trường. Người ta nhớ tới những khuôn mặt trẻ, những người bạn năm xưa, những bước chân trên đất đỏ Tăng Nhơn Phú và một thời tuổi trẻ đă đi qua không thể trở lại.

 

Thời gian có thể xóa đi doanh trại, làm cỏ mọc trên những khoảng đất cũ, nhưng không dễ xóa được kư ức của con người. Bởi có những nơi ta từng sống chỉ vài tháng, nhưng lại nhớ suốt một đời.

 

Thủ Đức là một nơi như vậy. Một quân trường. Một ngọn đồi. Một thời áo trận.

 

Và một thế hệ thanh niên đă để lại ở đó một phần tuổi trẻ của ḿnh.

 

 

Đoàn Xuân Thu

Melbourne

4/72 SQTBTĐ.

 

 

Mời đọc thêm bài: Cư An Tư Nguy

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính