Sự tráo trở của Cộng sản Bắc Việt trong Chiến tranh Việt Nam.

 

Đoàn Xuân Thu

 

 

Trong lịch sử hiện đại của dân tộc Việt Nam, hiếm có cuộc chiến nào kéo dài, khốc liệt và để lại những hậu quả sâu rộng như cuộc chiến Việt Nam (1955–1975). Hơn hai mươi năm chiến tranh đă khiến hàng triệu người Việt Nam thiệt mạng, đất nước bị tàn phá, gia đ́nh ly tán và để lại những vết thương vẫn c̣n ảnh hưởng đến nhiều thế hệ.

 

Cuộc chiến ấy không chỉ là cuộc đối đầu giữa hai miền Nam – Bắc, mà c̣n là một phần của cuộc tranh chấp toàn cầu giữa hai khối tư tưởng trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh: chủ nghĩa cộng sản quốc tế và thế giới tự do. Trong cuộc đối đầu đó, Cộng sản Bắc Việt với sự hậu thuẫn của Liên Xô, Trung Cộng và các nước cộng sản khác đă theo đuổi mục tiêu thống nhất Việt Nam bằng con đường quân sự.

 

Dưới khẩu hiệu “chống Mỹ cứu nước”, Hà Nội tuyên truyền rằng họ đang tiến hành một cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Tuy nhiên, đối với nhiều người miền Nam Việt Nam và những người chống lại chủ nghĩa cộng sản, đây là một cuộc chiến nhằm cưỡng chiếm Việt Nam Cộng ḥa bằng sức mạnh quân sự và ư thức hệ.

 

Bên cạnh chiến trường súng đạn, Bắc Việt c̣n tiến hành một mặt trận khác không kém phần quan trọng: mặt trận tuyên truyền. Chính tại đây, chúng đă xây dựng một chiến dịch vận động dư luận quốc tế nhằm tạo dựng h́nh ảnh một phong trào giải phóng chính nghĩa, đồng thời che giấu những mục tiêu chính trị và những chính sách cai trị khắc nghiệt của chế độ cộng sản.

 

Chiến tranh Việt Nam và sự hậu thuẫn của khối cộng sản quốc tế.

 

Cuộc chiến tại Việt Nam không thể tách rời khỏi bối cảnh Chiến tranh Lạnh. Bắc Việt không đơn độc trong cuộc đối đầu với Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng ḥa.

 

1. Liên Xô là nguồn cung cấp vũ khí quan trọng nhất cho Hà Nội. Ngoài súng đạn, xe tăng và các phương tiện quân sự, Liên Xô c̣n viện trợ hệ thống pḥng không hiện đại, đặc biệt là hỏa tiễn SAM-2 (SA-75 Dvina), loại vũ khí từng gây nhiều tổn thất cho các phi vụ oanh kích của Hoa Kỳ trên miền Bắc Việt Nam.

 

Các chuyên gia quân sự Liên Xô đă sang Bắc Việt để huấn luyện kỹ thuật, hỗ trợ vận hành các hệ thống radar và hỏa tiễn pḥng không. Chính những hệ thống này đă đóng vai tṛ quan trọng trong việc bảo vệ các mục tiêu quân sự tại miền Bắc.

 

2. Trung Cộng cũng đóng một vai tṛ lớn trong việc viện trợ cho Bắc Việt. Bắc Kinh cung cấp vũ khí, quân nhu, công binh, lực lượng hậu cần và một số đơn vị pḥng không nhằm giúp Hà Nội duy tŕ cuộc chiến lâu dài.

 

3. Ngoài Liên Xô và Trung Cộng, Bắc Hàn cũng từng tham gia hỗ trợ Bắc Việt, đặc biệt trong lĩnh vực pḥng không. Một số quân nhân Bắc Hàn đă có mặt tại miền Bắc Việt Nam và có người đă thiệt mạng trong quá tŕnh tham chiến.

 

Sự can thiệp của các nước cộng sản cho thấy chiến tranh Việt Nam không chỉ là một cuộc xung đột nội bộ, mà c̣n là một chiến trường quan trọng trong cuộc tranh chấp quyền lực giữa các khối chính trị trên thế giới.

 

Tuyên truyền – một vũ khí chiến lược của Bắc Việt.

 

Nếu vũ khí giúp Bắc Việt chiến đấu trên chiến trường, th́ tuyên truyền giúp họ giành lợi thế trên mặt trận dư luận.

 

Với những khẩu hiệu như “Mỹ xâm lược”, “chống Mỹ cứu nước”, “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, Hà Nội xây dựng h́nh ảnh rằng họ chỉ đang tiến hành một cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam.

 

Qua các cơ quan truyền thông như Đài Tiếng nói Việt Nam, báo chí trong nước và các tài liệu được dịch ra tiếng Anh, tiếng Pháp để phổ biến quốc tế, Bắc Việt đă vận động mạnh mẽ giới trí thức, sinh viên và các phong trào phản chiến tại phương Tây.

 

Nhiều người phản đối chiến tranh v́ lo ngại thương vong và mong muốn ḥa b́nh. Tuy nhiên, trong bối cảnh thông tin phức tạp của thời kỳ đó, không ít người đă tiếp nhận cuộc chiến qua những thông điệp được xây dựng từ một phía.

 

Trong khi lên án Hoa Kỳ, hệ thống tuyên truyền Bắc Việt thường giảm nhẹ hoặc phủ nhận những sự kiện gây tranh căi như Cải cách Ruộng đất tại miền Bắc, sự đàn áp các lực lượng đối lập, hay những vụ sát hại trong biến cố Tết Mậu Thân 1968 tại Huế.

 

Từ “giải phóng” đến một chế độ toàn trị. Sau khi kiểm soát miền Bắc năm 1954, chính quyền cộng sản tiến hành xây dựng một xă hội theo mô h́nh tập trung quyền lực.

 

Những chính sách như:

 

Cải cách ruộng đất với các cuộc đấu tố và xử lư oan sai nghiêm trọng;

 

Tập thể hóa nông nghiệp, hạn chế quyền sở hữu cá nhân.

 

Kiểm soát báo chí, văn hóa và tư tưởng. Đàn áp những tiếng nói bất đồng đă tạo nên một hệ thống chính trị trong đó quyền tự do cá nhân bị giới hạn nghiêm ngặt.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, hàng trăm ngàn quân nhân, công chức và trí thức của Việt Nam Cộng ḥa bị đưa vào các trại cải tạo. Nhiều gia đ́nh bị CS cướp mất tài sản, bị chia ly và hàng triệu người đă t́m đường rời bỏ đất nước bằng nhiều h́nh thức khác nhau.

 

Những biến cố ấy trở thành một phần quan trọng trong kư ức lịch sử của cộng đồng người Việt tị nạn trên khắp thế giới.

 

Sự thật lịch sử không thể bị chôn vùi.

 

Chiến tranh Việt Nam kết thúc bằng chiến thắng quân sự của Bắc Việt năm 1975. Tuy nhiên, lịch sử không chỉ được nh́n nhận qua kết quả cuối cùng của một cuộc chiến, mà c̣n qua những ǵ đă xảy ra trong suốt quá tŕnh dẫn đến kết quả đó.

 

Cuộc chiến Việt Nam không chỉ là cuộc đối đầu giữa xe tăng, máy bay và súng đạn. Đó c̣n là cuộc chiến giữa các hệ tư tưởng, giữa các chiến dịch tuyên truyền, và giữa những cách nh́n khác nhau về tự do, độc lập và quyền con người.

 

Sau hơn nửa thế kỷ, việc t́m hiểu lịch sử đ̣i hỏi sự nghiên cứu nghiêm túc, đối chiếu nhiều nguồn tài liệu và lắng nghe tiếng nói của những người từng trực tiếp trải qua biến cố.

 

Bởi v́ một dân tộc chỉ có thể ḥa giải với quá khứ khi dám nh́n nhận quá khứ bằng sự thật — dù sự thật ấy có đau đớn đến đâu.

 

 

Đoàn Xuân Thu

Melbourne.

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính