Qua cầu rút ván.

 

Đoàn Xuân Thu

 

 

Ở đời, có những chuyện nếu không tận mắt nh́n thấy th́ khó mà tin cho nổi. Nhất là chuyện người Việt – từng một thời bồng bế nhau vượt biển, ôm lấy cái sống trong tay mà liều ḿnh với sóng dữ – vậy mà sau mấy chục năm định cư nơi đất khách, lại có người quay sang lạnh lùng nh́n những đoàn người tị nạn khác với ánh mắt nghi ngại, thậm chí khinh khi. Họ giơ cao khẩu hiệu chính trị, hô những câu nghe tưởng như rất “đúng luật”, nhưng trong đó lại phảng phất một thứ quên lăng rất nguy hiểm: quên chính thân phận của ḿnh ngày xưa.

 

Người viết xin mạn phép gọi đó là một thứ bệnh: mất trí nhớ chọn lọc trong chính trị, hay nói theo kiểu b́nh dân Nam Kỳ cho gọn: qua cầu rút ván.

 

 

I. Khi kư ức chỉ c̣n là thứ trang trí.

 

Có một nghịch lư khá chua chát: càng sống lâu ở xứ tự do, có người lại càng dễ quên ḿnh đă từng đến đó như thế nào. Năm 1975, những chuyến không vận khẩn cấp đă đưa hàng chục ngàn người Việt rời khỏi Sài G̣n trong hỗn loạn. Sau đó là những con thuyền lênh đênh giữa Biển Đông, không giấy tờ, không quốc tịch, không bảo chứng nào ngoài… ḷng cầu may và khát vọng sống tự do.

 

Nếu xét theo ngôn ngữ hành chính khô khan, họ không hề “đúng thủ tục”. Họ là những kẻ vô danh, không hồ sơ, không thị thực, không bảo lănh. Họ là “bất hợp pháp” trong cái nh́n máy móc của luật lệ.

 

Thế nhưng, họ đă được cứu. Không phải v́ họ hoàn hảo về giấy tờ, mà v́ họ đang tuyệt vọng. Không phải v́ họ đúng quy tŕnh, mà v́ họ đúng vào lúc nhân đạo cần lên tiếng.

(Người cứu họ là Tổng thống Jimmy Carter thuộc đảng Dân Chủ, cái đảng họ đang điên cuồng chửi bới theo tiếng suưt chó của giáo chủ tà đạo MAGA Donald Trump)

 

Và rồi, từ những con người được cứu ấy, có người nay lại quay sang nh́n người khác đang đứng trước cửa nước Mỹ với ánh mắt nghi kỵ: “Bất hợp pháp”, “phải trục xuất”, “đóng cửa biên giới”.

 

Cái ṿng đời ấy, nếu không phải là bi kịch của trí nhớ, th́ c̣n là ǵ nữa? II. Cái lư “hợp pháp – bất hợp pháp” và sự ngụy biện tiện lợi.

 

Có một kiểu lập luận nghe qua tưởng rất vững: “Tôi hợp pháp, nên tôi có quyền nói người khác bất hợp pháp.”

 

Nhưng cái lư đó chỉ đứng vững khi người ta cố t́nh quên đi lịch sử chính ḿnh.

 

Phần lớn người Việt tị nạn đầu tiên không hề có quy chế hợp pháp ngay từ đầu. Họ chỉ trở thành “hợp pháp” sau khi được hệ thống quốc tế công nhận là người tị nạn. Tức là, cái “hợp pháp” hôm nay được xây trên chính cái “không hợp pháp” của ngày hôm qua.

 

Di dân các thời sau – từ Trung Mỹ, Haiti hay những vùng chiến sự khác – cũng đi qua một tiến tŕnh tương tự: chạy trốn, xin tị nạn, chờ xét duyệt, rồi mới được công nhận.

 

Vậy th́ câu hỏi đặt ra không phải là họ “đúng hay sai giấy tờ”, mà là: họ đang chạy trốn khỏi cái ǵ?

 

Nếu ngày xưa ḿnh được hỏi “Anh có giấy tờ không?” mà không ai cứu, th́ có lẽ hôm nay đă không c̣n câu chuyện để mà tranh luận nữa.

 

 

III. Khi chính trị biến thành sân khấu của cảm xúc.

 

Không thể phủ nhận rằng ông Donald Trump là một nhân vật gây chia rẽ mạnh mẽ trong chính trị Mỹ. Ông nói những câu ngắn, mạnh, dễ nhớ. Ông đánh trúng vào nỗi sợ của một bộ phận cử tri: sợ mất việc, sợ thay đổi, sợ người ngoài.

 

Nhưng điều đáng nói không nằm ở ông ta, mà nằm ở chỗ: nhiều người không c̣n phân biệt được đâu là chính sách, đâu là khẩu hiệu, đâu là cảm xúc.

 

Những câu như “Build the wall”, “Deport them all” nghe th́ gọn, nhưng phía sau nó là cả một hệ thống phức tạp của con người, số phận, chiến tranh, nghèo đói và di cư.

 

Người Việt từng là nạn nhân của chiến tranh, từng hiểu thế nào là phải bỏ quê hương ra đi. Thế nhưng khi nghe những khẩu hiệu ấy, một số người lại thấy… yên tâm. Yên tâm v́ có một người nói thay nỗi lo của họ, dù nỗi lo ấy không dựa trên toàn bộ sự thật.

 

Thật ra, đó không phải là lập trường chính trị. Đó là phản xạ tâm lư: t́m một tiếng nói mạnh để che lấp sự bất an của chính ḿnh.

 

IV. Di dân – không phải gánh nặng, mà là phần lịch sử của nước Mỹ.

 

Các nghiên cứu của nhiều cơ quan độc lập tại Mỹ nhiều lần cho thấy: người di dân không phải là nhóm có tỷ lệ phạm pháp cao như lời đồn thổi. Trái lại, họ thường làm những công việc nặng nhọc, ít người muốn làm: nông trại, dịch vụ, chăm sóc, lao động tay chân.

 

Họ đóng thuế, tiêu dùng, và góp phần vào nền kinh tế vận hành hằng ngày.

 

Nói cách khác, họ không “phá hoại” hệ thống, mà đang giúp hệ thống đó đứng vững.

 

Thế nhưng, nghịch lư là có người từng sống nhờ trợ cấp xă hội trong giai đoạn đầu định cư, nay lại quay sang chỉ trích người khác là “ăn bám”. Cái nghịch lư ấy nếu nói nhẹ th́ là quên ơn, nói nặng th́ là tự mâu thuẫn với chính quá khứ của ḿnh.

 

 

V. Tị nạn – một kư ức không nên bị xóa.

 

Làm người tị nạn không phải là một vết nhơ. Nó là một chương lịch sử. Một chương có nước mắt, có mất mát, có hải tŕnh, có trại tạm cư, có những cái tên không bao giờ trở về.

 

Nếu hôm nay ta cảm thấy xấu hổ v́ chữ “tị nạn”, th́ vô t́nh ta đang phủ nhận luôn cả những người đă nằm lại ngoài biển Đông, những người không bao giờ có cơ hội để “hợp pháp hóa” cuộc đời ḿnh.

 

Tị nạn, trong trường hợp của người Việt, không chỉ là một t́nh trạng pháp lư. Nó là một kư ức tập thể. Một vết hằn lịch sử.

 

Và kư ức ấy, nếu bị bẻ cong để phục vụ cho định kiến hôm nay, th́ không c̣n là kư ức nữa, mà trở thành sự phản bội.

 

 

VI. Qua cầu rút ván – khi đạo lư bị bỏ lại phía sau

 

Có những câu nói không cần ṿng vo: Khi một người từng không giấy tờ, rồi quay sang khinh miệt người không giấy tờ khác – đó là hành vi qua cầu rút ván.

 

Khi một người từng được mở cửa cứu giúp, rồi nay muốn đóng cửa vĩnh viễn với kẻ khác – đó là “qua cầu rút ván”.

 

Khi một người từng sống nhờ ḷng nhân đạo, rồi quay sang phủ nhận giá trị của ḷng nhân đạo – đó là một sự đứt găy trong đạo lư.

 

Chính trị th́ có thể thay đổi. Chính sách có thể tranh luận. Nhưng đạo lư th́ không thể tùy tiện đổi màu theo hoàn cảnh.

 

Kết luận: Đừng quên ḿnh đă từng là ai.

 

Người Việt từng có một giai đoạn lịch sử đặc biệt: rời quê hương trong nước mắt, t́m tự do trong vô định, và được thế giới mở ḷng cưu mang.

 

Điều làm nên giá trị của hành tŕnh ấy không chỉ là việc đến được bến bờ mới, mà là cách người ta nhớ về hành tŕnh đó.

 

Nếu hôm nay ta quên mất ḿnh đă từng được cứu như thế nào, th́ mai này, khi nh́n thấy người khác đang cần được cứu, ta cũng sẽ không c̣n hiểu nổi v́ sao họ cần được giúp. Và khi đó, cái gọi là “văn minh” sẽ chỉ c̣n là một lớp vỏ.

 

Nước Mỹ mạnh không chỉ v́ biên giới, mà v́ khả năng mở cửa trong những thời điểm cần thiết.

 

Người Việt từng được nâng lên không phải v́ họ hoàn hảo, mà v́ họ được nh́n như con người.

 

Nếu hôm nay ta quay lưng với nguyên tắc ấy, th́ không phải ta đang bảo vệ luật pháp – mà đang đánh mất kư ức của chính ḿnh.

 

Và khi kư ức bị đánh mất, th́ “qua cầu rút ván” không c̣n là một câu châm biếm nữa, mà trở thành một lời tự thú thói ích kỷ chỉ liếm bộ lông của ḿnh.

 

 

Đoàn Xuân Thu

Melbourne

 

Mời đọc tiếp bài: Tượng Nữ Thần Tự Do Và Những Trái Tim Đóng Cửa.

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính