Kiếng vạn hoa!

 

Đoàn Xuân Thu

 

 

 

Nhà thơ Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên. Ông sanh ngày 20, tháng Mười, năm 1938 tại G̣ Vấp. Ông học Trung học Petrus Trương Vĩnh Kư rồi Đại học Văn khoa Sài G̣n, ban Văn chương Pháp nhưng bỏ dỡ.

 

Năm 1963, 25 tuổi, ông vào Trường Bộ binh Thủ Đức. Chức vụ cuối cùng của ông là Thiếu tá, Trưởng pḥng Tâm lư chiến.

 

Sau năm 1975, ông bị CSVN cầm tù ba lần, gần 13 năm. Là tù nhân chính trị, năm 1993, ông và gia đ́nh sang định cư ở Houston, tiểu bang Texas, Hoa Kỳ.

 

Nhà thơ Tô Thùy Yên đă từ trần lúc 9 giờ 15 phút, tối Thứ Ba, ngày 21, tháng Năm, năm 2019, hưởng thọ 82 tuổi.

 

2. Tô Thùy Yên là một trong những nhà thơ mặc áo lính của chế độ VNCH. Đa phần những bài thơ của ông, là những ‘mảnh vụn’ thâu lượm được (rồi gọt giũa lại thành vàng, thành thơ) khi Tô Thùy Yên đi dài theo chiến cuộc Việt Nam!

 

Chẳng hạn như bài: ‘Chiều trên Phá Tam Giang’, Tô Thùy Yên đă từng cật vấn một người lính từ miền Bắc CS vào xâm lăng miền Nam tự do.

 

“V́ sao ngươi tới đây? Hỡi gă cộng quân sốt rét, đói. Xích lời nguyền sinh Bắc, tử Nam!”

 

Rồi nhà thơ cũng tự vấn ngay chính thân phận của ḿnh, khi bay trên Phá Tam Giang trước ngày quân ta vượt pḥng tuyến Nam Mỹ Chánh để chiếm lại Cổ Thành Quảng Trị trong tay bọn CS Bắc Việt vào mùa Hè đỏ lửa 1972.

 

“V́ sao ta tới đây? Ḷng xót xa, thân xác mỏi ṃn”

 

Để rồi người lính của cả đôi bên được ǵ hoặc mất những ǵ?

 

“Ví dầu ngươi bắn rụng ta. Như tiếng hét. Xé hư không bặt im. Chuyện cũng thành vô ích! Ví dầu ngươi gục. V́ bom đạn bất dung. Thi thể chẳng ai thâu. Nào có chi đáng kể!”

 

“Ngươi cùng ta ai thật sự hy sinh. Cho tổ quốc Việt Nam - một tổ quốc…? Các việc ngươi làm. Ngươi tưởng chừng ghê gớm lắm. Các việc ta làm Ta xét thấy chẳng ra chi. Khi cùng làm những việc như nhau!”

 

Sau mười năm lưu đày biệt xứ từ Sài G̣n ra những vùng rừng thiêng nước độc miền Bắc, sát biên giới Việt Trung. Rồi chiến tranh biên giới 1979 nổ ra giữa Trung Cộng và CS Bắc Việt, Tô Thùy Yên lại bị lê lết từ trại tù nầy sang trại tù khác. Mười năm khủng khiếp, mười năm dưới chín tầng địa ngục; đến đá cũng ngậm ngùi thay!

 

(Các trại tù lao cải của CS cố ư làm cho tù nhân mất hết cảm giác và nghĩ suy của một con người b́nh thường, không c̣n đớn đau mà cũng không c̣n hy vọng, chỉ biết sống qua ngày như một thứ súc vật bị làm nhục. Nhưng theo W. Ernest Henley: (1849 –1903), một nhà thơ người Anh đă nói; “Thi sĩ, không ai có thể làm nhục được hắn ngoài chính hắn” “I am the master of my fate. I am the captain of my soul”. “Tôi làm chủ số phận đời tôi. Tôi làm chủ tâm hồn tôi!”)

 

Để sống sót, dũng cảm bước ra từ những chấn song của nhà tù, một ḿnh “Ta về’ trên con đường vắng, như một biểu tượng của chiến thắng hận thù.

 

Và bài thơ ‘Ta về’ ra đời như thế đấy! “Vĩnh biệt ta-mười-năm chết dấp…Mười năm mặt sạm soi khe nước. Ta hóa thân thành vượn cổ sơ.”

 

Quân thù gian ác hành hạ vẫn không thể bẻ găy được ông; v́: “Mười năm ta vẫn cứ là ta” “Ta về như lá rơi về cội. Bếp lửa nhân quần ấm tối nay. Chút rượu hồng đây xin rưới xuống. Giải oan cho cuộc biển dâu này! “…Hăy kể lại mười năm chuyện cũ. Một lần kể lại để rồi thôi!”

 

Ông, từ Bắc xuôi Nam, trở lại quê xưa: “Nhà cũ mừng c̣n nguyên mái, vách. Nhện giăng, khói ám, mối xông nền. Mười năm, con đă già trông thấy. Huống mẹ cha đèn sắp cạn dầu.”

 

Người vợ như “Ḥn Vọng phu”, mười năm hay cả ngàn năm, vẫn trông chồng xa xôi ngoài cơi Bắc: “Cho dẫu ngàn năm em vẫn đứng. Chờ anh như biển vẫn chờ sông. Ta gọi thời gian sau cánh cửa. Nỗi mừng giàn giụa mắt ai sâu”

 

Bởi: “Đau khổ riêng ǵ nơi gió cát. Thềm nhà bụi chuối thức thâu đêm!”

 

Tô Thùy Yên lại trở về với Thơ: “Ngồi đây nền cũ nhà hương hỏa. Đọc lại bài thơ thủa thiếu thời. Ai đó trong hồn ta thổn thức. Vầng trăng c̣n tiếc cuộc rong chơi!”

 

Tô Thùy Yên tiếp tục làm thơ, không ghi tên, nhờ một người quen đem một bài thơ ra nước ngoài cho bạn bè thân quen đọc. Không ngờ những nhà văn học hải ngoại lại công khai b́nh thơ của ông trên báo chí. Vậy là: năm 1991, Công an trong nước biết được, bắt giam ông thêm ba năm nữa trong Trại biệt giam 3C đường Tôn Đức Thắng (trước 75 là đường Cường Để), gần sông Sài G̣n.

 

(Giở lại lịch sử, chúng ta đều biết rằng: năm 1989, ngày ‘Lục Tứ’ (4/6/1989), Cộng sản Trung Quốc rung rinh bên bờ sụp đổ do cuộc biểu t́nh rầm rộ của Sinh viên Trung quốc đ̣i tự do trên quảng trường Thiên An Môn, thủ đô Bắc Kinh.

 

Cũng chính năm 1991, Cộng Sản Liên Xô sụp đổ! Những nước Đông Âu thoát khỏi gông cùm xiềng xích; nên Cộng Sản Việt Nam bàng hoàng run sợ, tăng cường bắt bớ, đàn áp nhân dân, hy vọng dập tắt mọi phản kháng để chế độ CS được sống c̣n.

 

Làm thơ dính chặt với cái nghiệp ‘tù đày’. Đă mang lấy Nghiệp vào thân, cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa; ông phải khăn gói đi tù thêm hai lần nữa.

 

Và bài thơ: ‘Thức giấc trong biệt giam’ của Tô Thùy Yên ra đời như thế đấy: … “Pḥng biệt giam tối mốc thấp hẹp. (Ta ở đây. Hơn bảy tháng rồi)…Ta nh́n lên những ḍng chữ trên tường. Viết bằng gạch, bằng than và h́nh như bằng cả máu. Những phẫn nộ, quyết tâm, nguyện cầu, kư thác, than van. Ngày tháng năm, tên họ... Của những người ở trước. Nay về đâu? … Căn pḥng này hồi trước nhốt Việt cộng. Bây giờ nhốt phản động... Lịch sử đổi phiên người gác ngục. Lúc giày đinh, lúc dép râu!”

 

Quả lịch sử chỉ là những con người thay đổi lớp áo. Như bà con ḿnh sau 75 thường nói: “Trời làm một trận lăng nhăng. Ông hoá ra thằng, thằng hoá ra ông!”

Là một sĩ quan Tâm lư chiến, chắc hẳn nhà thơ mặc áo lính Tô Thùy Yên thừa biết trong chế độ độc tài toàn trị của CS th́:

“Don’t think. If you think, then don’t speak. If you think and speak, then don’t write. If you think, speak and write, then don’t sign. If you think, speak, write and sign, then don’t be surprised!”

 

“Hăy đừng nghĩ. Nếu anh nghĩ, th́ đừng nói. Nếu anh nghĩ và nói, th́ đừng viết. Nếu anh nghĩ, nói và viết, th́ đừng kư. Nếu anh nghĩ, nói, viết và kư, th́ đừng ngạc nhiên”.

 

Biết vậy nhưng nhà thơ Tô Thùy Yên vẫn làm thơ rồi lại bị tù đày cho đến khi tới được đất nước Hoa Kỳ vào năm 1993.

 

Điều lư thú là thơ Tô Thùy Yên cũng làm các nhà phê b́nh văn học phía bên kia chiến tuyến rất thán phục. Rất dễ hiểu là vàng óng áng th́ một thằng ‘ngu’ cũng biết được đó là vàng.

 

Thán phục nhưng vẫn cố chụp cho ông một cái mũ: “Tô Thùy Yên là chủ tâm sử dụng khá nhiều ngôn ngữ Nam…rặt. Chữ của ông đơn giản, mộc mạc, những h́nh ảnh thuần Việt quê mùa” cho đúng với đường lối của Đảng là không được phép ca tụng quân thù.

 

Theo tôi, Tô Thùy Yên chẳng có chủ tâm làm thơ ngôn ngữ Nam rặt bao giờ. Lẽ dễ hiểu, ông là người Sài G̣n tất phải làm thơ bằng tiếng Mẹ đẻ, tiếng của người dân Sài G̣n.

 

Nhà thơ Tô Thùy Yên từng thú nhận là: “Dẫu có được sửa tới sửa lui bao nhiêu lần, khi đọc lại, tôi vẫn cảm thấy h́nh như chưa phải vậy. Tôi rất dễ bị ray rứt, dằn vặt chỉ v́ một tứ chưa ổn, một chữ chưa đắc”. Ông cẩn trọng đến mức cầu toàn; dù chúng ta ai cũng biết là làm một bài thơ hay đến độ không có một khiếm khuyết nào là chuyện bất khả.

 

Bài thơ ‘Ta về’ là ‘chúng ta’, là cả triệu người miền Nam đă sống qua cơn mộng dữ. Thơ không chỉ cho một thời mà cho cả nhiều thời, không của một người mà của muôn người. Của muôn người th́ biết bao nhiêu điều phải dàn trải nỗi đớn đau khi miền Nam lọt vào tay CS, nên Tô Thùy Yên, dẫu rất mực tài hoa, cũng phải than rằng: “Ta tiếc đời ta sao hữu hạn. Đành không trải hết được ḷng ta”.

 

Tô Thùy Yên như cái kiếng vạn hoa, mỗi lần đọc lại ta thấy một h́nh ảnh mới cũng rực rỡ không kém.

 

Ông đă rời bỏ ra đi; chúng ta nhưng thơ Tô Thùy Yên c̣n ở lại với chúng ta!

 

 

Đoàn Xuân Thu

Melbourne.

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính