John Paul Vann: một người Mỹ biết giữ lời cam kết!

 

Đoàn Xuân Thu

 

 

 

Lịch sử cuộc chiến Việt Nam ghi dấu chân của hơn nửa triệu quân nhân và cố vấn Hoa Kỳ từng hiện diện trên mảnh đất miền Nam. Có người đến rồi đi, có người lập chiến công, có người để lại tai tiếng, cũng có người trở thành biểu tượng của sự thất hứa khi chính trường Washington đổi thay.

 

Thế nhưng, giữa biết bao khuôn mặt ấy, có một người Mỹ được nhiều quân nhân Việt Nam Cộng Ḥa kính trọng không phải v́ cấp bậc hay chức vụ, mà v́ nhân cách. Ông không phải là vị tướng bốn sao. Ông cũng không phải là một chính khách quyền lực. Ông chỉ là một người Mỹ luôn tin rằng danh dự c̣n quan trọng hơn quyền lực, sự thật quư giá hơn những bản báo cáo đẹp đẽ, và tự do là một lời hứa không được quyền phản bội. Người ấy là John Paul Vann.

 

John Paul Vann sinh năm 1924 tại tiểu bang Virginia, trong một gia đ́nh nghèo giữa thời kỳ Đại Khủng Hoảng của nước Mỹ. Tuổi thơ thiếu thốn đă rèn luyện nơi ông ư chí vươn lên và tính cách cứng cỏi. Trong Đệ Nhị Thế Chiến, ông phục vụ trong Không lực Hoa Kỳ với tư cách phi công, rồi chuyển sang Lục quân và thăng dần đến cấp trung tá.

 

Nhưng điều khiến John Paul Vann nổi tiếng không phải quân hàm, mà chính là bản lĩnh nói lên sự thật, dù sự thật ấy có làm phật ư cấp trên.

 

Năm 1962, ông đến Việt Nam lần đầu với tư cách cố vấn quân sự cho Sư đoàn 7 Bộ binh Quân lực Việt Nam Cộng Ḥa hoạt động tại vùng đồng bằng sông Cửu Long.

 

Không giống nhiều viên chức chỉ nh́n chiến tranh qua bản đồ hay các bản thống kê, Vann sống ngay giữa chiến trường. Ông đi cùng đơn vị hành quân, nói chuyện với sĩ quan và binh sĩ, quan sát tận mắt đời sống người dân. Chính từ những trải nghiệm ấy, ông nhận ra một điều mà nhiều nhà hoạch định chính sách ở Washington không muốn nghe: chiến tranh không thể thắng chỉ bằng bom đạn nếu không giành được ḷng dân.

 

Sau trận Ấp Bắc đầu năm 1963, trong khi nhiều bản báo cáo chính thức của phía Hoa Kỳ cố tŕnh bày kết quả theo chiều hướng lạc quan, John Paul Vann lại công khai chỉ ra những khuyết điểm trong chiến thuật và sự yếu kém trong cách điều hành cuộc chiến. Ông cho rằng nếu tiếp tục con đường ấy th́ đối phương sẽ ngày càng mạnh hơn.

 

Sự thẳng thắn ấy khiến ông trở thành người không được ḷng nhiều cấp chỉ huy. Cuối cùng, ông rời quân đội Hoa Kỳ.

 

Nhưng John Paul Vann không bỏ Việt Nam.

 

Năm 1965, ông trở lại với tư cách một viên chức dân sự cao cấp, trước hết trong USAID, sau đó giữ vai tṛ quan trọng trong chương tŕnh CORDS – chương tŕnh phối hợp giữa b́nh định nông thôn và an ninh quân sự.

 

Chính tại đây, ông chứng minh rằng một người không mặc quân phục vẫn có thể chỉ huy chiến trường bằng kiến thức, kinh nghiệm và ḷng can đảm.

 

Trong Quân khu II, nơi bao gồm vùng Tây Nguyên đầy khốc liệt, John Paul Vann gần như sống ngoài mặt trận. Ông thường xuyên đáp trực thăng đến những nơi giao tranh ác liệt nhất, ăn cùng lính, ngủ trong hầm với Biệt Động Quân, theo dơi từng cuộc hành quân, trực tiếp kiểm tra việc tiếp vận và phối hợp hỏa lực.

 

Ông từng nói: "Tôi không thể ngồi trong văn pḥng ở Sài G̣n mà vẽ bản đồ chiến tranh. Muốn biết sự thật, phải có mặt giữa chiến trường."

 

Đó không phải là khẩu hiệu. Đó là cách ông sống.

 

Đối với nhiều sĩ quan Việt Nam Cộng Ḥa, John Paul Vann không cư xử như một cố vấn nước ngoài. Ông xem ḿnh là một thành viên trong tập thể chiến đấu. Ông lắng nghe ư kiến sĩ quan Việt Nam, tôn trọng kinh nghiệm thực địa của họ và luôn t́m cách hỗ trợ thay v́ áp đặt.

 

Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972 là thử thách lớn nhất. Quân CS Bắc Việt mở cuộc tổng tấn công trên toàn lănh thổ miền Nam. Tại mặt trận Kontum, t́nh h́nh trở nên đặc biệt nguy hiểm. Nếu Kontum thất thủ, toàn bộ Tây Nguyên có nguy cơ tan vỡ.

 

Trong giai đoạn cam go ấy, John Paul Vann có mặt gần như liên tục tại chiến trường. Ông phối hợp chặt chẽ với các sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng Ḥa trong việc điều động lực lượng, sử dụng không yểm và tổ chức tiếp tế.

 

Nhiều nhà nghiên cứu quân sự sau này nh́n nhận rằng những đóng góp của ông là một trong các yếu tố quan trọng giúp lực lượng pḥng thủ giữ vững Kontum.

 

Nhưng ông không sống để chứng kiến kết quả cuối cùng.

 

Ngày 9 tháng 6 năm 1972, trên đường thị sát chiến trường bằng trực thăng, chiếc máy bay chở ông gặp thời tiết xấu và đâm xuống vùng rừng núi Tây Nguyên.

 

John Paul Vann tử nạn ngay trên mảnh đất mà ông đă dành gần trọn cuộc đời để chiến đấu.

 

Tang lễ của ông được tổ chức tại Nghĩa trang Quốc gia Arlington với đầy đủ nghi thức quân sự trọng thể. Dù lúc qua đời chỉ giữ chức vụ dân sự, ông vẫn được nước Mỹ dành cho những nghi lễ hiếm có, như một sự ghi nhận đối với những cống hiến đặc biệt của ông trong cuộc chiến Việt Nam.

 

Thế nhưng, bi kịch lớn nhất không nằm ở cái chết của John Paul Vann.

 

Bi kịch nằm ở chỗ lư tưởng mà ông theo đuổi không c̣n được những người lănh đạo cao nhất của nước Mỹ theo đuổi đến cùng.

 

Đầu thập niên 1970, chính quyền Tổng thống Richard Nixon và Cố vấn An ninh Quốc gia Henry Kissinger chuyển trọng tâm sang chiến lược ḥa hoăn với Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa và Liên Xô, đồng thời t́m cách rút quân Hoa Kỳ khỏi Việt Nam. Tiến tŕnh đó dẫn đến việc kư kết Hiệp định Paris năm 1973.

 

Những người ủng hộ chính sách này xem đó là giải pháp cần thiết để chấm dứt sự can dự quân sự của Hoa Kỳ. Trong khi đó, nhiều người Việt Nam Cộng Ḥa và không ít sử gia lại cho rằng việc rút quân đă làm suy yếu nghiêm trọng khả năng pḥng thủ của miền Nam và góp phần dẫn đến biến cố năm 1975.

 

Đó là cuộc tranh luận vẫn c̣n kéo dài cho đến hôm nay.

 

Nhưng có một điều hầu như không ai phủ nhận.

 

John Paul Vann chưa bao giờ rời bỏ chiến trường v́ tính toán chính trị.

 

Ông không sống trong những pḥng họp ngoại giao.

 

Ông không hiện diện trên những bàn hội nghị.

 

Ông hiện diện nơi tiếng đại bác c̣n vang dội, nơi những người lính Việt Nam Cộng Ḥa vẫn từng ngày giữ từng tấc đất.

 

Có thể Richard Nixon sẽ măi được nhắc đến như một tổng thống nhiều quyền lực.

 

Có thể Henry Kissinger sẽ măi được ghi nhớ như một nhà ngoại giao nổi tiếng.

 

Nhưng trong kư ức của nhiều quân nhân Việt Nam Cộng Ḥa, John Paul Vann lại được nhớ đến bằng một danh hiệu giản dị hơn mà cao quư hơn: Một người Mỹ biết giữ lời cam kết.

 

Ông không chết tại Washington. Ông không chết trong một văn pḥng đầy máy lạnh.

 

Ông ngă xuống giữa chiến trường Tây Nguyên, bên cạnh những người lính mà ông từng sát cánh chiến đấu.

 

Có lẽ đó chính là lư do, sau hơn nửa thế kỷ, cái tên John Paul Vann vẫn được nhiều người Việt Nam nhắc đến với tất cả sự kính trọng.

 

Không phải v́ ông là người Mỹ. Mà v́ ông là một con người biết sống với danh dự, biết trung thành với lương tâm, và tin rằng tự do không phải là món hàng để mặc cả trên bàn cờ chính trị.

 

Đối với nhiều người Việt Nam Cộng Ḥa, đó chính là di sản lớn nhất mà John Paul Vann để lại.

 

 

Đoàn Xuân Thu

Melbourne.

 

Mời đọc tiếp bài: “A Bright Shining Lie”

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính