Chữ thời Cộng sản.

 

Đoàn Xuân Thu

 

 

Trong xă hội Việt Nam ngày nay dưới sự cai trị của CSBV, ngôn ngữ không c̣n là nhịp cầu nối liền những tâm hồn của đồng bào cùng chung một giống ṇi, mà đă bị biến thành công cụ áp đặt của một thể chế. Cộng sản Bắc Việt từ sau năm 1975 đă cưỡng bức dân miền Nam phải nói, phải viết, phải suy nghĩ theo khuôn chữ của chúng. Chữ nghĩa vốn dĩ là của dân tộc, của ông bà ngh́n năm gầy dựng, bỗng chốc trở thành khí cụ chính trị nằm trong tay một tập đoàn CS độc tài cai trị. Người miền Nam từ đó bị ép uổng, bị cười chê, bị sửa giọng, sửa chữ, cho đến bị kết tội “sai chính tả” chỉ v́ không theo khuôn phép mà cộng sản tự bày ra.

 

Hăy nhớ lại trước năm 1975, người miền Nam viết tiếng Việt theo phong cách riêng của ḿnh. Cách dùng chữ, cách nói chuyện, cách chào hỏi đều mang bản sắc vùng miền. Ta chào nhau “thưa ông bà, thưa quư vị,” chứ không ai lố lăng nói “chào mọi người.” Bởi trong truyền thống Việt Nam, lời chào bao giờ cũng đi liền với thứ bậc. Người nhỏ tuổi chào người lớn tuổi bằng “dạ thưa ba, thưa má,” “dạ thưa chú, thưa bác,” không ai dám gom cả thiên hạ vào một câu “chào mọi người” một cách vô lễ.

 

Thử nghe bọn trẻ ngày nay chào nhau: “Chào mọi người!” Câu ấy chẳng khác ǵ cái lối dịch thẳng từ tiếng Anh “Hi everybody (everyone).” Người Việt có truyền thống xưng hô theo tôn ti. Không ai về nhà gặp ông bà nội ngoại mà dám mở miệng “chào mọi người.” Ở miền Nam ngày trước, lỡ có đứa con nói vậy th́ chắc chắn ăn chổi chà. Ông bà ḿnh dạy: “Học ăn, học nói, học gói, học mở.” Lời chào, tiếng nói phản ánh cả một nền văn hóa. Vậy mà bọn “ba ke hai nút” cứ phang ngang bửa củi, coi thường phép tắc tổ tiên.

 

Ấy vậy mà khi cộng sản từ trên núi tràn xuống, từ trong rừng tràn ra chúng lập tức biến ngôn ngữ miền Nam thành “sai chuẩn.” Chúng đem cái chữ “chuẩn” của chúng ra để chụp mũ, rồi mỉa mai rằng dân miền Nam “viết sai chính tả, nói sai ngữ pháp.”

 

Đám dư luận viên CS ngày nay cũng rập khuôn như vậy. Một tay ḅ đỏ chê bai rằng: “Tôi viết nhiều, h́nh như bị ‘loạn ngôn’. Thử coi lại dấu hỏi, dấu ngă đă chuẩn chưa?” Cái chữ “chuẩn” nghe qua là biết ngay thứ giọng “Ba ke hai nút” được đào luyện từ trường lớp tuyên huấn miền Bắc. Người miền Nam vốn không nói “chuẩn,” mà nói thẳng là “đúng hay sai,” “trúng hay trật.” Cách phân biệt giản dị mà sáng sủa. Ấy thế mà chúng lại đem chữ “chuẩn” để làm thước đo, biến tiếng Việt thành hàng rào cản, chia dân tộc ra làm kẻ “đúng chuẩn” và kẻ “sai chuẩn.”

 

Tôi bèn đáp lại rằng: phê b́nh th́ phải chỉ rơ chữ nào, câu nào, trong đoạn văn nào viết sai. Đă chê th́ phải đề xuất viết thế nào mới trúng. Nếu chỉ đem cái nhăn “loạn ngôn” ra dán th́ đó không phải là phê b́nh học thuật, mà là thủ đoạn tấn công cá nhân theo kiểu “khỉ Trường Sơn đít đỏ” của cộng sản.

 

Thực ra, chính chúng mới là kẻ loạn ngữ, bởi không phân biệt nổi sự khác nhau giữa “ngôn” và “ngữ.”

 

Viết là chữ, là ngữ. Nói mới là ngôn. Viết nhiều th́ cùng lắm gọi là viết dở, viết loạn chữ, chứ sao lại bảo là loạn ngôn?

 

Một đám cầm bút mà không phân biệt nổi nghĩa chữ, th́ lấy ǵ làm “chuẩn”?

 

Cũng cần nói thêm, trong sinh hoạt hằng ngày, cộng sản c̣n sửa cả lối xưng hô của dân Nam. Người miền Nam quen xưng “tôi,” gọi nhau bằng “ông, bà, chú, bác, anh, chị.”

 

Riêng chữ “ḿnh” th́ để dành cho t́nh nghĩa vợ chồng. Bởi thế, trong ca dao mới có câu: “Ḿnh ơi có nhớ ta chăng? Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời.”

 

Nhà báo Nguyễn Vỹ, bút hiệu Diệu Huyền, từng viết bài “Ḿnh ơi” trên báo Phổ Thông để nói về t́nh nghĩa vợ chồng gắn bó. Ấy thế mà ngày nay, lên mạng xă hội đâu đâu cũng thấy chúng xưng “ḿnh” một cách bừa băi. Trẻ con cũng “ḿnh,” người dưng nước lă cũng “ḿnh,” biến chữ nghĩa thành thứ lai căng mất hết hồn vía. Đó là hậu quả của việc sống trong một xă hội mà chữ nghĩa không c̣n gắn với văn hóa truyền thống, mà chỉ chạy theo thói quen dịch ngược từ tiếng ngoại quốc.

 

Chưa hết, trong đời sống ngôn ngữ, cộng sản c̣n biến những câu nói tự nhiên của người Nam thành lỗi “chính tả.” Người Nam nói: “Con tôi được tám tháng,” hoặc “nó mới có mười một tháng,” chứ không bao giờ nói “tám tháng tuổi.” Bởi chữ “tuổi” có nghĩa là tṛn một năm. Chưa đủ một năm th́ tính theo tháng. Đó mới là chính xác theo lẽ thường. Nhưng ra ngoài xă hội bây giờ, Ba ke hai nút coi lối nói ấy là “sai chuẩn,” rồi đem lối nói “tám tháng tuổi” mà gán cho cái gọi là “tiếng Việt toàn dân.” Đó chính là áp đặt văn hóa một cách ngu ngốc.

 

Tôi không hề phủ nhận rằng ngôn ngữ là tài sản chung của cả dân tộc. Tiếng Việt không phải của riêng Bắc, Trung hay Nam, cũng chẳng phải của một chế độ chính trị nào. Nó là kết tinh của cả mấy ngàn năm văn hiến, là tiếng nói nuôi dưỡng cả dân tộc. Thế nhưng, chính cộng sản đă biến ngôn ngữ thành công cụ cai trị. Chúng không dung nạp sự khác biệt vùng miền, không cho phép dân Nam bảo lưu lối nói, lối viết của ḿnh. Chúng bắt buộc người ta phải theo cái gọi là “chính tả thống nhất,” mà thực chất chỉ là tiếng Bắc ấn xuống. Nói khác đi là “sai,” viết khác đi là “sai.” Học tṛ miền Nam lớn lên trong nhà trường cộng sản buộc phải viết theo sách giáo khoa miền Bắc, không c̣n được học cách hành văn tự nhiên của cha ông.

 

Hậu quả là ǵ? Hậu quả là một thế hệ miền Nam mất gốc, dần xa rời tiếng nói của cha mẹ. Con cháu miền Nam gọi “bố” thay v́ “ba,” nói “mẹ” thay v́ “má,” viết “chuẩn” thay v́ “đúng,” chào “mọi người” thay v́ “thưa quư vị.” Ngôn ngữ vốn là cội nguồn văn hóa, mà cội nguồn ấy đă bị thay đổi chỉ v́ một chế độ CS muốn đồng hóa toàn dân.

 

Người cộng sản như Thủ tướng Phạm Văn Đồng thường rêu rao khẩu hiệu “giữ ǵn sự trong sáng của tiếng Việt.” Nghe th́ cao quư, nhưng thực chất đó chỉ là cái vỏ che đậy cho mưu đồ chính trị. Bởi sự trong sáng không thể có khi một chế độ độc tài chỉ cho phép một cách nói, một cách viết, và lên án mọi cách khác biệt là “sai.”

 

Giữ ǵn tiếng Việt phải là tôn trọng sự đa dạng, chấp nhận những nét phong phú của ba miền, của hải ngoại, của lớp người trước và lớp người sau.

 

Muốn giữ ǵn th́ phải để cho dân tộc được nói và viết theo bản sắc của ḿnh, chứ không phải nhồi nhét chữ nghĩa theo giáo điều.

 

Cho nên, vấn đề của chúng ta hôm nay không phải là tranh luận xem “chuẩn” hay “không chuẩn,” mà là làm thế nào để bảo vệ tiếng Việt khỏi bị cưỡng bức. Ngôn ngữ phải được trả lại cho nhân dân. Viết đúng th́ giữ, viết sai th́ sửa, nhưng sửa dựa trên lư lẽ, dựa trên văn phạm và truyền thống, chứ không thể dựa trên quyền lực chính trị. Người miền Nam có quyền nói theo giọng của ḿnh, viết theo cách của ḿnh, và truyền lại cho con cháu cái hồn chữ nghĩa của ông bà.

 

Ngôn ngữ là xương sống văn hóa. Mất ngôn ngữ là mất hồn. Người miền Nam đă từng mất nước, mất tự do, nhưng không thể để mất luôn tiếng nói. Tiếng Việt là của dân tộc, không phải của cộng sản. Nói đúng, viết đúng là trách nhiệm chung, nhưng cái “đúng” ấy phải dựa trên lẽ phải, chứ không phải dựa trên khẩu hiệu. Chúng ta phải vạch ra cái sai, phải chỉ rơ cái gian trá, để giữ ǵn tiếng Việt cho ḿnh và cho con cháu mai sau.

 

 

Đoàn Xuân Thu

Melbourne.

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính