Ba biểu tượng chiến thắng trong Mùa Hè Đỏ Lửa 1972.

 

Đoàn Xuân Thu

 

 

 

“Trị Thiên thừa thắng xông lên – Kontum kiêu hùng – B́nh Long anh dũng”

 

Mùa Hè năm 1972 là một trong những thời điểm khốc liệt và quyết định nhất của cuộc chiến Việt Nam. Trong khi Hoa Kỳ đang từng bước rút quân theo chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh”, quân đội CS Bắc Việt mở một cuộc tổng tấn công quy mô lớn trên toàn miền Nam, thường được VNCH gọi là Mùa Hè Đỏ Lửa. hay CSBV gọi là Chiến dịch Nguyễn Huệ. Đây là cuộc tấn công lớn nhất của CSBV kể từ đầu cuộc chiến, với mục tiêu đánh sụp chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa, tiêu diệt lực lượng quân sự chủ lực và tạo lợi thế trên bàn đàm phán tại Paris thủ đô nước Pháp.

 

Ba chiến trường quan trọng nhất trong cuộc tấn công này là Quảng Trị – Thừa Thiên ở miền Trung, Kontum ở Cao nguyên Trung phần và B́nh Long – An Lộc ở miền Đông Nam Phần.

 

Sau nhiều tháng giao tranh ác liệt, ba nơi này đă trở thành những biểu tượng của sự chống trả quyết liệt của Quân lực Việt Nam Cộng Ḥa. Từ đó xuất hiện câu khẩu hiệu: “Trị Thiên thừa thắng xông lên – Kontum kiêu hùng – B́nh Long anh dũng.”

 

Nhiều người sau này cho rằng câu khẩu hiệu này có thể là một dụng ư đặc biệt của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, khi sử dụng những chữ cái đầu hoặc cách sắp xếp câu chữ như một dạng ám hiệu truyền tin. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có tài liệu lịch sử đáng tin cậy chứng minh rằng ông Nguyễn Văn Thiệu đă tạo ra câu này như một mật mă quân sự.

 

Khả năng đúng hơn là đây là một sản phẩm của công tác tuyên truyền thời chiến của Tổng Cục Chiến Tranh Chánh Trị, nhằm ghi nhớ và biểu tượng hóa ba chiến thắng quan trọng.

 

1. Trị Thiên: Từ mất mát đến cuộc phản công.

 

Ngày 30 tháng 3 năm 1972, Bắc Việt mở cuộc tấn công lớn vào tỉnh lỵ Quảng Trị, mở màn cho Mùa Hè Đỏ Lửa. Hàng chục ngàn quân CSBV cùng xe tăng, pháo binh vượt qua khu phi quân sự, tiến đánh các căn cứ pḥng thủ của VNCH.

Trước sức tấn công mạnh của đối phương CS, các đơn vị VNCH tại vùng giới tuyến phải rút lui khỏi nhiều vị trí. Quảng Trị thất thủ vào tháng 5 năm 1972, trong đó có Thành cổ Quảng Trị trở thành một trong những địa danh đẫm máu nhất của cuộc chiến.

 

Tuy nhiên, sự thất thủ ban đầu không có nghĩa là chiến tranh đă kết thúc. Từ mùa hè năm đó, quân đội VNCH tổ chức phản công. Với sự yểm trợ mạnh của không quân và pháo binh, các đơn vị thiện chiến như Sư đoàn Nhảy Dù, Thủy quân Lục chiến, Biệt động quân và các đơn vị bộ binh từng bước tiến lên.

 

Đỉnh điểm là cuộc tái chiếm nhiều khu vực quan trọng quanh Quảng Trị, đặc biệt là chiến dịch tái chiếm Thành cổ bắt đầu từ tháng 6 năm 1972. Cuộc chiến kéo dài nhiều tháng với thương vong rất lớn cho cả hai phía.

 

V́ vậy, cụm từ “Trị Thiên thừa thắng xông lên” không chỉ mang ư nghĩa quân sự mà c̣n thể hiện tinh thần sau khi bị đánh mạnh vẫn có khả năng phục hồi và phản công.

 

2. Kontum: Kontum kiêu hùng: Bức tường thép giữa Cao nguyên.

 

Nếu Quảng Trị là chiến trường quyết định ở miền Trung th́ Kontum là điểm nóng chiến lược tại Cao nguyên Trung phần.

 

Kontum có vị trí đặc biệt quan trọng v́ kiểm soát các đường giao thông chiến lược nối liền Tây Nguyên với vùng duyên hải. Nếu chiếm được Kontum, quân CS Bắc Việt có thể mở rộng ảnh hưởng xuống miền Nam Trung phần và đe dọa toàn bộ hệ thống pḥng thủ của VNCH.

 

Từ tháng 4 năm 1972, các đơn vị CS Bắc Việt với quân số lớn, gồm nhiều đơn vị chính quy cùng xe tăng và pháo binh, mở cuộc tấn công vào Kontum.

 

Lực lượng pḥng thủ chủ yếu là Sư đoàn 23 Bộ binh VNCH, dưới sự chỉ huy của các sĩ quan cao cấp như Chuẩn tướng Lư Ṭng Bá, cùng các đơn vị Biệt động quân, Địa phương quân và lực lượng yểm trợ.

 

Cuộc chiến tại Kontum vô cùng khốc liệt. Bắc Việt nhiều lần dùng biển người kết hợp với xe tăng để đột phá pḥng tuyến. Tuy nhiên, quân pḥng thủ đă giữ vững thành phố trước áp lực rất lớn.

 

Vai tṛ của không quân, đặc biệt là các phi vụ oanh kích chiến thuật, cũng góp phần quan trọng trong việc ngăn chặn các mũi tiến công.

 

Việc giữ được Kontum đă trở thành một chiến thắng mang tính biểu tượng, v́ nó chứng minh rằng quân đội VNCH có khả năng tự đảm nhiệm chiến trường lớn khi không c̣n sự hiện diện đông đảo của quân bộ chiến Mỹ.

 

V́ vậy, hai chữ “Kontum kiêu hùng” ra đời để nhấn mạnh tinh thần chiến đấu của những người lính đă bảo vệ vùng cao nguyên.

 

3. B́nh Long – An Lộc: Thành phố không chịu khuất phục.

 

Trong ba chiến trường, có lẽ An Lộc là nơi trở thành biểu tượng mạnh mẽ nhất của sự chống cự.

 

Tháng 4 năm 1972, quân CS Bắc Việt mở cuộc tấn công vào tỉnh B́nh Long với mục tiêu chiếm An Lộc, một vị trí chiến lược cách Sài G̣n khoảng 100 km về phía bắc.

 

Nếu An Lộc thất thủ, đối phương có thể tạo bàn đạp uy hiếp trực tiếp thủ đô Sài G̣n.

 

Lực lượng pḥng thủ An Lộc gồm Sư đoàn 5 Bộ binh VNCH, các đơn vị Địa phương quân, Biệt kích và lực lượng tăng viện. Trong nhiều tuần lễ, thành phố bị bao vây, pháo kích liên tục. Hàng ngàn quả đạn pháo trút xuống một khu vực nhỏ bé.

 

CS Bắc Việt sử dụng nhiều đơn vị cấp sư đoàn, cùng xe tăng và pháo binh, mở nhiều đợt tấn công nhằm chiếm thành phố. Nhưng lực lượng pḥng thủ vẫn bám trụ.

 

H́nh ảnh những người lính chiến đấu giữa đống đổ nát, thiếu thốn tiếp tế, bị thương nhưng không rời vị trí đă trở thành biểu tượng của cuộc pḥng thủ An Lộc.

 

Sau nhiều tháng chiến đấu, ṿng vây bị phá, An Lộc được giữ vững.

 

Câu “B́nh Long anh dũng” v́ thế không chỉ nói về một chiến thắng quân sự, mà c̣n nói về ư chí chịu đựng và tinh thần chiến đấu trong hoàn cảnh gần như tuyệt vọng.

 

Khẩu hiệu hay mật hiệu?

 

Sau năm 1972, ba câu “Trị Thiên thừa thắng xông lên – Kontum kiêu hùng – B́nh Long anh dũng được nhắc đến nhiều trong các tài liệu, hồi kư và sinh hoạt của những người từng trải qua cuộc chiến.

 

Cách đặt câu có sự liên kết về âm điệu, dễ nhớ, dễ truyền bá. Trong chiến tranh, mọi bên đều sử dụng khẩu hiệu để nâng cao tinh thần binh sĩ và hậu phương. Việc dùng những cụm từ mạnh mẽ như “thừa thắng”, “kiêu hùng”, “anh dũng” là một phương pháp phổ biến để tạo biểu tượng.

 

Tuy nhiên, việc cho rằng Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cố ư dùng mẫu tự đầu để tạo thành một mật hiệu truyền tin th́ hiện vẫn chưa có chứng cứ lịch sử xác nhận.

 

Điều chắc chắn hơn là chính quyền VNCH lúc đó muốn biến ba chiến trường thành ba biểu tượng tinh thần:

 

Quảng Trị – ư chí phản công.

Kontum – khả năng giữ vững chiến trường.

An Lộc – tinh thần tử thủ.

 

 

Kết luận.

 

Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 là một bước ngoặt lớn trong lịch sử chiến tranh Việt Nam. Dù cuộc chiến cuối cùng vẫn tiếp tục cho đến năm 1975, nhưng ba trận đánh tại Trị Thiên, Kontum và B́nh Long đă trở thành những dấu mốc quan trọng.

 

Câu khẩu hiệu “Trị Thiên thừa thắng xông lên – Kontum kiêu hùng – B́nh Long anh dũng” có thể không phải là một mật hiệu do Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu sáng tạo, nhưng nó đă phản ánh một thực tế lịch sử: năm 1972, Quân lực Việt Nam Cộng Ḥa đă phải đối diện với một cuộc tấn công quy mô lớn và đă tạo nên những trận pḥng thủ, phản công được xem là những trận đánh quyết liệt nhất của cuộc chiến.

 

Đó là lư do ba địa danh ấy vẫn c̣n được nhiều cựu chiến binh và những người nghiên cứu chiến tranh Việt Nam nhắc đến như những biểu tượng của một thời kỳ đầy biến động và bi thương trong lịch sử Việt Nam hiện đại.

 

 

Đoàn Xuân Thu

Melbourne.

 

 

Mời đọc thêm bài: An Lộc 1972 – 68 ngày tử thủ giữa Mùa Hè Đỏ Lửa!

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính