Hồi kư H.O: Ra trại

(phần 2)

 

 

 

GIAN NAN CHO CÁI VÉ TÀU 


Khoảng thập niên 1980 người ḿnh sợ nhất là chuyện đi xa. Huống ǵ tôi, khi cầm cái giấy ra trại trong tay, nó không thể là cái giấy thông hành loại “ưu tiên” cho tôi về với gia đ́nh một cách thuận lợi.

 

Vé tàu đây là vé tàu hỏa, hay trong nam c̣n gọi là tàu lửa. Ai gọi sao cũng được miễn là đưa được cái thân ḿnh vào được trong toa chiếc tàu chợ là một điều may mắn. Năm đó tôi đă nghe tin có tàu THỐNG NHẤT, nhưng đây không phải là h́nh ảnh người dân mong đợi, huống ǵ tôi là người tù được tha về.


Trước khi từ giă mẹ đích tôi tại Tây Lộc, Người đă dặn kỹ, phải lên ga từ sau nửa đêm mới hi vọng mua được vé tàu hỏa. Thế là tôi t́m cách lên ga Huế khi vừa ăn xong bữa tối tại Tây Lộc. Tôi không nhớ lên ga Huế bằng phương tiện ǵ? Đi bộ th́ không, có thể tôi lại đi xe đạp ôm vào chiều hôm trước và dĩ nhiên là phải thức ngủ một đêm để đợi mua vé tàu. 

 

“Những tư tưởng lớn gặp nhau”, người viết xin hài hước một ít trong hồi kư này do trong cái pḥng rộng không ghế, chẳng bàn, người ta tới thật sớm rồi cùng ngồi lố nhố không biết từ lúc nào? Tâm lí bon chen, tính toán đă hằn sâu vào tâm năo biết bao nhiêu con người khổ sở, thiếu thốn mọi bề, chứ không riêng ǵ cho một người tù như tôi.  Nhờ tới trước nửa đêm trước nên tôi may mắn c̣n chỗ để chuẩn bị dựa lưng vào cái vách tường ố vàng trong căn pḥng đợi vé. Có mấy người tới sớm, nên c̣n chỗ để lót tạm cái bao nằm co quắp qua đêm trên cái nền xi măng đầy bụi cát. Chẳng có ai dám rời những cái túi đựng đồ mang theo. Họ ôm vào ḷng, dáng nằm co quắp chẳng ai e ngại ǵ? Hơn năm năm có thể người ḿnh đă quen lối sống kia...chờ đợi, bon chen, lo lắng cùng chịu đựng kiên tŕ đủ thứ ngoài kiếm ăn ra c̣n có chuyện t́m cách đi lại như hôm đó. Quanh tôi có nhiều loại túi chứa đựng của người đợi vé, phần nhiều là những bị lác (đan bằng bẹ cây lác) hay bao bột ḿ xưa cùng mấy cái bao cát ni lon màu xanh của quân đội trước đây. Tư trang vật dụng của người dân Huế đợi tàu trong đêm chỉ vậy, nhưng đó có thể là “bảo vật bất ly thân” của một thời thiếu khổ.


Dĩ nhiên tôi chưa ngủ thực ra tôi chẳng dám ngủ. Nhờ tới sớm giống họ nên tôi cũng có một vị trí thích hợp rồi ngồi bệt xuống cái nền xi măng dơ bẩn cùng dựa lưng và suy nghĩ miên man. Tôi nhớ về h́nh ảnh mấy ngày qua, y như giấc mộng ... Những cái rẫy sắn bạt ngàn, những rừng mây nước đầy gai của B́nh Điền phía Tây nam Huế, tiếng trại đọc tên người được tha về, những bước chân người về vội vả không dám ngó lui cái trại tù quá nhiều ấn tượng...tôi không thể chợp mắt chút nào, ḷng nôn nao tưởng tượng đến h́nh ảnh gia đ́nh tôi ba mẹ, các em , d́ cậu bà con trong đó sẽ mừng thế nào khi bước chân tôi về đến ngơ.

 

Tôi lại nhớ về h́nh ảnh mẹ đích tôi, em Hoà .. c̣n lại sinh nhai ở Tây Lộc, anh Nghĩa, con đầu ba tôi giờ phiêu bạt ra sao? Tiếng mừng rỡ của những người bạn chí thiết của tôi tại xóm Cửa Hậu một thành phố mất rồi. Sự giúp đỡ chí t́nh của Bốn và bà con bạn bè ngoài Hải Trí , ngoài Đông hà, ôi! một t́nh thuơng , ngập tràn ân nghĩa.


Đêm c̣n dài. Tôi không dám bắt chuyện với ai. Cái rụt rè của người mới ra tù, giờ tôi nhớ lại. Có lẽ họ xem tôi như 'anh du kích' nào trên rừng mới về do tôi không bận áo quần sọc tù mà bận cái áo ka ki lính màu ô liu đă bạc màu. Cái mũ cối bằng rơm vàng mà trại phát, thêm cái va lô VNCH cũ mà tôi từng dùng bao năm nay. Thỉnh thoảng tôi nắn lại kiểm soát cuộn tiền xem c̣n không. Tôi chia số tiền ra hai nơi; một nữa để mua vé, một nửa pḥng thủ khi cần thiết.

 

Ga Huế 1980

 

GIÂY PHÚT BON CHEN


Độ ba giờ sáng thiên hạ đă tới chật cứng cả pḥng đợi. Tôi bắt đầu cảm thấy ngột ngạt, sự lo lắng của tôi tăng dần. Làm sao mà có vé bán đủ cho ngần ấy người? Làm sao tôi có vé đây? H́nh ảnh khi trời rạng sáng sẽ ra sao trước ba cái ô nho nhỏ bán vé kia?


Năm giờ sáng trời hơi ràng rạng. Những khuôn mặt bồn chồn, tiếng ồn ào bắt đầu lớn dần. Một đám đông không đang sắp hàng thứ tự mà một đám đông bắt đầu dồn nén lẫn nhau. Từ ông già , trung niên, cho đến mấy anh thanh niên đều chuẩn bị. Tôi tưởng tượng tất cả ' bắp thịt' của họ đă 'sẵn sàng'!


Riêng tôi, nhờ tới rất sớm nên không xa cửa bán vé bao nhiêu. Trong ḷng tôi, nửa do dự nửa lo sợ, rụt rè không sẵn sàng đem hết sức ḿnh ra đối phó với t́nh trạng chen lấn xem chừng gay cấn đến nơi!? Mới ra tù, ai tôi cũng e sợ? Tôi chưa hết cái cảm giác bị ràng buộc, canh chừng như ở trong trại. Mọi người, mọi thứ đều “hơn tôi” do tôi là người tù mới được tha về...đang “chập chững” bước vào một thế giới mới, một không gian mới hoàn toàn khác lạ.


Tiếng “tu-huưt” của người bảo vệ rít lên. Cửa bán vé mở rồi! Tôi chưa kịp thấy người bán vé là đàn ông hay đàn bà? th́ một sức mạnh như “triều dâng thác lũ” cứ đẩy tôi lui dần...lui dần! Khoảnh khắc đó không biết sao tôi yếu quá? Tôi thật sự yếu sức quá chăng? Có thể những ngày tháng đói ăn, thiếu thốn mọi thứ làm tôi yếu sức hay tôi quá do dự quá e sợ không muốn căng thẳng với ai làm tôi rụt rè lúc chen lấn? Tôi cố gắng hết sức lấn tới thêm nhiều lần nữa nhưng rất ít kết quả!?


Tiếng la hét, chửi rủa giờ đă vang lên loạn xạ! Hết kiểm soát rồi!? Nhưng có ai kiểm soát đâu? Giờ chỉ c̣n là chuyện của sức mạnh cơ bắp và la hét cuồng nộ thôi! Có thể không có tôi trong đó do tôi quá rụt rè không dám kéo giật ai, mạnh tay với ai.


Chợt tiếng tu-huưt vang lên từng hồi liên tiếp? có tiếng người phía trước la ơi ới?!

 

Có chuyện ǵ bất thường trước đó?


- Xê (tránh) ra, xê ra mau!!!


Người bảo vệ nhà ga vừa thổi c̣i vừa đạp lên vai người dân bươn về trước, tiếp đến hai ba người nữa. anh ta phải đi trên “đống người” do không c̣n cách nào chen đi được nữa? Mặt anh ta đỏ gay, hơi thở hồng hộc, cái băng đỏ bảo vệ bên tay áo phải xập- śnh như gần rơi ra. Không ai dám chống lại anh. Hai ba người bảo vệ vừa kéo vừa la hét, họ đạp trên đầu đám đông thật sự; tuy vậy chẳng thấy ai lùi lại sau.


- Chuyện ǵ?... Cái chi rứa?


Nhiều tiếng người nhao nhao hỏi? Câu trả lời rơ ràng tiếp liền theo là h́nh ảnh ba người bảo vệ kéo lê thân ḿnh anh thanh niên đầu tóc rũ rượi ra ngoài. Th́ ra anh ta bị ngất. Tôi chứng kiến một sự thật trước mắt- một thanh niên “phải ngất” khi chen lấn mua vé tàu?


- Hết vé! hết vé!


Tôi nghe tim ḿnh như ngưng đập, trời đất như sụp đổ!


- Hết vé rồi? làm răng (sao) đây?


Cả đám đông khựng lại...

- Răng mà hết vé, mới bán mà?

- Tiêu chuẩn ...ưu tiên.... vừa phải thôi chớ?


Người ta càu nhàu, chửi rủa... Tôi không c̣n nghe ǵ khi trong tôi đang 'chết lịm'!
Thất vọng!

 

khi người viết vô đến nhà tại Hàm Tân th́ tờ ĐIỆN TÍN này cũng vừa đến nhà

 

Tôi quay ra vào pḥng bưu điện “đánh giây thép” (điện tín) vào Hàm Tân cho gia đ́nh tôi biết t́nh h́nh khó mua vé tàu.


- Răng eng (sao anh) không tới pḥng Công An ga xin họ giúp cho?


Một bác không mua được vé như tôi, sau khi nghe hoàn cảnh tôi mới được tha về, nên mách cho tôi vậy.

 

Pḥng công an nằm ở cuối ga. Thú thật, do nóng ḷng bởi phương tiện nên tôi mới 'bấm bụng' làm gan đẩy cửa bước vào. 


Tôi không nhớ mấy ông công an Ga Huế bận đồ thường hay cảnh phục nữa. Tôi đưa tờ giấy ra trại ra rồi tŕnh bày. H́nh ảnh sâu đậm nhất là cái lắc đầu lạnh lùng và ánh mắt lừ đừ như vô hồn từ chối lời thỉnh cầu của tôi về chuyện vé tàu vào nam. Họ trả lời tôi, họ chỉ lo an ninh c̣n vé tàu th́ họ “không có thẩm quyền” ǵ cả!


Thế là hết!

 

Thêm một lần nữa thất vọng, tôi vội bước ra khỏi pḥng công an. Chỉ mấy ngày xa trại tù, ngày nào cũng không khỏi trong ṿng canh giữ của họ. Tôi bước ra thật nhanh, h́nh như có nỗi ám ảnh vô lư, chẳng khác chi họ sắp bắt tôi lên lại trại tù B́nh Điền vậy?

 

 

Tôi chạy lên, xuống chẳng khác chi “gà mắc đẻ”,  gặp ai tôi cũng hỏi cách vào cho được ga tàu?


Chợt ánh mắt tôi bắt gặp một đám người đang lố nhố trước mắt, tôi bước nhanh tới đó. Một thanh niên và một đứa bé đang đứng trấn một lỗ hổng vừa người chun qua tại bờ tường chia cách sân tàu tới và phía ngoài đường.


Một người thanh niên cùng một đứa nhỏ, cả hai đều có giọng nói Hà Tĩnh hay Nghệ an ǵ đó:


- Đưa năm đồng chui qua lộ (lỗ) ni, chờ tàu tới mấy bác cứ leo lên và sau đó ghi vé phạt, năm đồng... năm đồng thôi ...


Người viết nghe thế, mừng rỡ chẳng khác chi “chết đuối vớ được phao” vậy. Thú thật với bạn đọc giờ này mà hai người đó nói thách mười đồng hay vài chục tôi cũng phải đưa thôi. Tôi gấp vào, ḷng dạ quá hồi hộp nên muốn lên được tàu dù họ ra giá gấp hai ba lần. Một điều lạ, sau đó tôi mới thắc mắc: tại sao có cái lỗ đó? Mấy ông bảo vệ hay công an nhà ga sao không biết? Thật sự lúc đó tôi chẳng có th́ giờ để thắc mắc, chỉ đưa ngay năm đồng cho anh thanh niên giọng Nghệ An kia. Thấy lâu, anh ta vội đẩy tôi lên cao bảo tôi nhảy, dành lỗ kia cho mấy người khác chui qua.


Nhảy xuống xong, móc cái ba lô lên vai, tôi nh́n anh thanh niên ra vẻ biết ơn, vội ù chạy càng nhanh càng tốt do sợ an ninh bắt lại. Cái sợ của tôi 'nhân đôi' do tôi là một thằng phạm (tù nhân) mới được tha về.

 

 

CHUYẾN TÀU XUÔI NAM


Những toa tàu người đông như “nêm cối”, tàu sắp chạy rồi! Tôi chạy thật nhanh tới, lui... t́m chỗ đu lên tàu? Hú vía, cuối cùng tôi đu người được lên một toa gần cuối. Nhét được thân ḿnh vào trong toa là may mắn lắm rồi. Những người khác cũng thế, cuối cùng họ cũng lên được tàu dù thân ḿnh có bầm giập, va chạm đau đớn ra sao cũng được. Tôi c̣n may mắn hơn do chỉ mang cái ba-lô trống rỗng khác với những người khác, c̣n đèo theo lỉnh kỉnh, túi bao đủ thứ?!


Cuối cùng tôi đă lọt vào chuyến tàu chợ từ ngoài kia vào. Bên trong, hai dăy ghế dài hai bên dĩ nhiên không c̣n chỗ nào để nhét cái “bàn toạ” vào. Hành khách lên sau ngồi đầy ở giữa. Chật đến nỗi, người ngồi trên vai nhau, thậm chí ngay cả suưt ngồi “trên đầu” người khác do một tay cố níu lên cái móc đu hay cái giá ngang đựng hành lư.


Tàu chạy!


Tiếng c̣i rít lên, tiếng súp lê báo hiệu bên ngoài, con tàu lắc ḿnh rùng rùng đầu chậm sau nhanh dần. Trong toa quá chật chội, tôi chẳng thấy ǵ được bên ngoài. Cảm giác bấy giờ của tôi ra sao? có thể nhiều lắm. Nỗi mừng về với gia đ́nh qua bao năm nhung nhớ. Nhưng trong tôi vẫn nhiều cảm giác bâng khuâng nhớ mẹ đích và em gái tôi c̣n ở lại bên chợ Tây Lộc, bạn bè bà con ngoài Quảng Trị mới và Đông Hà mới. Một quê hương bỏ lại, những trại tù kế tục nhau...những buổi đi rừng, những thân gỗ lim cứng 'hơn thép' ngoài rừng Như Xuân Thanh Hoá...

 

Thế là giă từ Huế, giă từ cái ga bán vé quá nhiều xúc động. Mới hôm qua đây và rạng sáng nay thôi; những âm thanh chen lấn , la hét như c̣n tồn tại , tiếng chói tai nhọn hoắc như cứ réo măi trong đầu tôi. Từng lớp người bị xô dạt về sau...mái tóc rũ xuống, cái đầu gục xuống của người thanh niên bị xỉu khi giành mua vé tàu ...


Tàu xưa kia phun khói đen ś giờ không c̣n. Những cái đầu máy diesel cũ kỹ thế vào cho những con tàu chợ này. Tàu ngang Phú Luơng hay Phú Bài ǵ đó, tôi đoán vậy. Tay tôi mỏi nhừ v́ phải níu, cái lưng c̣n đeo cái ba lô may mà chẳng có ǵ. Tôi cố gắng để khỏi phải ngồi lên đầu một bác ngồi bệt giữa sàn tàu.

 

Tuy toa đông người nhưng không ngăn được chuyện người di chuyển từ toa này sang toa khác.  Tiếng la hét phản ứng hay xin xỏ, tiếng cằn nhằn của bà lăo bị đạp lên chân, tiếng ho rũ rượi của anh thanh niên ngồi gần cửa sổ.


Thỉnh thoảng tôi thấy được vài đám ruộng, vài cột điện thoại trôi nhanh về sau. Con tàu thỉnh thoảng lắc mạnh, khi nghiêng bên này, rồi lại nghiêng bên kia làm tôi có phần hồi hộp.


Lần cuối cùng tôi đi tàu tức là năm 1977. Năm đó tôi từ Đô Luơng, Nghệ An và có lên tàu hoả để ra Thanh Hoá, tiếp tục cải tạo chặt hạ san bằng rừng lim Ḷng Hồ Sông Mực huyện Như Xuân. Giờ là chuyến tàu tràn đầy niềm vui mừng, là chuyến tàu cho tôi về với gia đ́nh, những người thuơng nhớ.

 

bóng phượng sông Truồi ngày xưa c̣n bé của tôi ngày vào quê Nội

 

H́nh như con Tàu đă đến ga Truồi. Ngày kia tôi có về thăm lại làng nội. Làng Nội tôi giờ chẳng c̣n ai. Chú tôi c̣n ‘cải tạo’ trên B́nh Điền. Ông Bà đă mất. Anh em xao lạc, người c̣n ‘cải tạo’ lớp đi kinh tế mới Nam Đông. Thím tôi, trong bữa ăn không quên món bột lọc quậy, ‘sở trường’ của thím. Chú tôi xa nhà đă 5 năm. Trong thôn xóm không biết làm ǵ ăn. Con cháu lớp quá nhỏ, lớp đàn bà con gái. Ngày xưa c̣n có đồng luơng chú tôi chu cấp thêm, giờ th́?


Ra tù, mới Huế, Truồi, Quảng trị, người thân bạn bè ... cảnh sinh hoạt đồng bào. Tất cả cộng lại cho tôi cảm giác hụt hẫng, “buồn lo vô hạn. Một xă hội trước mắt tôi như chới với sắp rơi ṭm xuống một vực thẳm to lớn đen ng̣m. Sự chia xa của những người tôi không c̣n thấy mặt. Cảm giác bơ vơ lạ lùng, tôi như bị vứt vào một cơi hoang mộng vu vơ nào đó.


Giờ tôi không có khả năng nào để nh́n ra được khung cửa sổ để xem con tàu qua cầu Truồi hay chưa?  Nếu ngồi xe thoải mái, khi qua cầu Truồi nh́n theo con nước chếch về dưới kia bên bờ sông lấp ló tàn phượng vĩ đỏ ối, sà cành soi bóng nước sông. Nơi đó là bến đ̣ thôn Xuân Lai, gần nhà Nội.


Tôi đang lo lắng cho vấn đề vé phạt ra sao? giờ th́ mấy người soát vé chắc gần tới. Họ đi toa này xuống toa khác không ai thoát được.


Lần đầu tiên trong đời tôi sắp gặp trường hợp vé phạt trên tàu. Phạt ra sao? vé phạt là ǵ? tôi thật t́nh chưa hề biết. Khi xưa c̣n nhỏ, tôi theo ba tôi vào ga Quảng Trị mua vé tàu đi Truồi hay đâu đó tôi không c̣n nhớ. Ngoại trừ tôi vẫn nhớ h́nh ảnh cái vé tàu nho nhỏ sẽ bị người soát vé lần lượt bấm 'cái lỗ' tṛn trên đó. Hơn nữa, chuyến tàu tôi đang đi hiện giờ đang hoạt động trong một xă hội mà tôi có cảm giác ban sơ y như trong một “thế giới khác lạ” mà người chiến thắng 'lạ hoắc' đối với tôi.


Thỉnh thoảng tôi nghe có nghe tiếng c̣i tàu. Không c̣n là tiếng hú dài 'lê thê' từ cái đầu máy đen ś đốt bằng than, phun khói từng bụm đậm đặc lên trời ngày xưa. Tiếng c̣i tàu dầu kêu rất khác, nghe toang toác, rất ngắn rồi im.


Có tiếng người xao xác phía trước. Sự im lặng đột ngột của một toa người đang láo nháo, ồn ào là cả một sự khác thường? Tiếng người nói phía trước cách tôi không xa:

 - Họ soát vé! họ soát vé!


“Cái ǵ đến sẽ đến” thôi. Thật t́nh tôi không nghĩ đến chuyện ‘phạt tiền’ mà sợ vớ vẫn rằng họ sẽ đuổi tôi xuống giữa đường. Mấy người có vé th́ mau hơn. Riêng những người không vé th́ bị hạch hỏi đi đâu? xuống đâu? tiếng lí nhí trả lời tôi không nghe rơ ...

- Anh kia vé đâu?

 

Người soát vé khá già, cái mũ cối trên đầu ông ta đă đổi màu bạc phếch. Tôi đă trù liệu, liền đưa ngay cái giấy ra trại mang hai chữ lớn “LỆNH THA” ngay cho ông ta và tŕnh bày hoàn cảnh. Tôi thấy ông ngạc nhiên lúc tôi kêu ông là “cán bộ”. Nhưng vẻ ngạc nhiên đó, ông giấu đi rất nhanh...

 

- Sao anh không mua vé tàu, có Lệnh Tha này cũng ưu tiên cho anh mà, cách mạng ta khi nào cũng khoan hồng và nhân đạo anh biết không?


Tôi kể lại chuyện chen nhau mua vé vào rạng sáng, và “kể lể ỉ- ôi” với ông ta rằng cũng tới sớm lắm, trong loạt những người đầu tiên tới đợi tại ga. Nhưng không thể “manh động” (một từ tôi mới biết từ trong trại) với bà con cô bác nên bị giạt lui sau. Tôi giấu chuyện anh thanh niên bị xỉu do lo sợ, biết đâu ông ta cho tôi 'nói xấu Cách Mạng' cũng nên?


Giọng ông bất ngờ dịu lại:

- Tàu này tới ga cuối cùng là Nha Trang không đi đến B́nh Tuy đâu nhé.


Tôi chỉ mong có thế, Nha Trang hay đâu cũng được, miễn là càng vô nam được chặng nào hay chặng đó. Tôi lại càng mừng hơn khi ông ta lấy phạt chỉ năm chục đồng. Số tiền khá lớn nhưng tôi c̣n lại trên hai trăm làm sao không về nam được.

 

Người soát vé đi rồi, giọng nói Thanh Hoá của ông ta tôi nghe và đoán được do trong tù tôi từng có một cán bộ “quản giáo” người Thanh Hoá. Trong tôi tự nhiên dâng lên cảm giác yêu đời. Không khí hết ngột ngạt. Quanh tôi, giờ đây mọi thứ đều đáng yêu cùng gần gũi.

 

 

Con tàu tự nhiên chuyển động rùng rục, chậm, nặng nề. Th́ ra giờ này nó đang men theo biển bắt đầu tới chân đèo Hải Vân. Thỉnh thoảng khung cửa sổ hơi hé ra. Tôi thấy rơ ràng đă tới xóm Lăng Cô, kỷ niệm t́nh yêu đầu tiên của ba mạ tôi lúc tôi chưa có hay bắt đầu có trên đời. Vẫn viền cát trắng, nhưng từ lúc vào đời lớn lên tôi chẳng hề trở lại thăm lại. Lăng Cô và viền cát trắng ngó qua chân đèo phía con tàu chợ đang chạy ngày xưa có một kỷ niệm về một cuộc t́nh sắt son của ba mẹ tôi  non nửa thế kỷ trước. Ngày đó đôi t́nh nhân yêu nhau tha thiết, thắm thiết hẹn ḥ; vẫn viền cát muôn đời h́nh bán nguyệt, vẫn những liếp phi lao xanh vi vút gió và những túp lều tranh ẩn hiện. Trong tiếng sóng biển ŕ rào, bên chân đèo Hải vân cao ṿi vọi, xóm vắng Lăng cô này nơi chứng kiến cuộc t́nh ba mẹ tôi “thề non hẹn biển”. Có lần thân phụ tôi kể lại với tôi, mẹ tôi có mang tôi trong thời gian đó. Ba mẹ tôi quen nhau ngoài Quảng Trị, khoảng đầu thập niên 1950 rồi hai người lại dắt nhau vào tận xóm này. Chẳng lạ chi, do ba tôi có người thân quen ở xóm đó. Quê nội tôi là Truồi, từ làng nội vào Lăng Cô th́ chẳng bao xa.

 

Những ngọn sóng bạc đầu đánh vào chân núi Hải Vân. Tàu chạy hơi dốc, trước nó là những cái hầm tàu đen ng̣m đang đợi...

 

(c̣n tiếp)

 

TRANG BLOG ĐINH HOA LƯ: HỒI KƯ H.O: RA TRẠI (phần 2)

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính