Sáng mắt sau ngày 30 tháng Tư, 1975
 

Bút Sử

 

 

Không những thành phần trong khối Việt Cộng miền Nam, tay sai của cộng sản Bắc Việt, sáng mắt sau ngày 30/4/1975, mà hầu hết những ai đă nghe theo tuyên truyền, làm theo chỉ thị từ miền Bắc cũng đă thấy ra hết những sự thật. V́ quyền lợi tiền bạc, chức vị mà những kẻ đương quyền bề ngoài phải bảo vệ cho nhau. Người ta một lần nữa sau 39 năm miền Nam bị cộng sản cưỡng chiếm lại phải bị nhồi nhét những điều không thật.

 

Để chứng minh sự lừa bịp như thế nào, không ǵ hơn là đưa ra những bằng chứng từ những người trong quá khứ đă từng là nạn nhân của chính sách ngu dân.

 

Sau thế chiến thứ hai, thế giới tự do phải đương đầu với làn sóng đỏ, Hồ Chí Minh (HCM) đă nhận ra điều này. Ngay vào đầu tháng 8, 1945, trước khi cướp Chính Phủ Trần Trọng Kim, Hồ đă thố lộ tâm trạng với viên trưởng cơ quan t́nh báo Hoa Kỳ OSS, ông Archimedes Patti.

 

He would assure them (the french) “and the world” that Viet Nam from north to south would be reduced to ashes, even if it meant the life of every man, woman, and child, and that his government’s policy would be one of “scorched earth to the end.” This statement from a man who was a master of understated diplomacy was, I knew, not an idle threat and I still remember it vividly (Why Vietnam, Archimedes Patti, page 4)

 

Ông ta (HCM) quả quyết với họ (người Pháp) “và cả thế giới” rằng Việt Nam từ bắc tới nam sẽ trở thành tro bụi, ngay cả nếu nó có nghĩa cuộc sống của mỗi người đàn ông, đàn bà, và trẻ con, và rằng chính sách của chính phủ ông ta là một loại “tiêu thổ tới cùng.” Câu nói này từ người mà ông ta là sư tổ của loại ngoại giao lưu manh gian hùng. Tôi biết, đó không là một đe dọa vu vơ, và tôi vẫn nhớ măi nó tới bây giờ một cách sinh động.

 

Sau Hội Nghị Potsdam vào 7/1945, đồng minh đă sắp xếp cho Anh vào Saigon tước vũ khí tàn quân Nhật. Người Anh đồng thời mở cửa nhà tù cho quân Pháp ra. Sự tính toán dù không chính thức trên giấy tờ đă cho người ta thấy tướng của Anh, ông Douglas Gracey, đă cho phép quân Pháp tấn công Việt Cộng tại Saigon, lớn nhất là trận ngày 23/9/1945.

 

Sau các thành phần lănh đạo trong chính phủ Vicky thân Đức và sự đổ bộ chiếm đóng của phe đồng minh tại Pháp để lấy lại nước Pháp từ bàn tay Đức, phong trào người Pháp tự do (Free French Movement) được dân chúng ủng hộ. Thành phần này đă từ từ lấy lại quyền lực kể cả các thuộc địa trước do Vicky nắm giữ. Charles de Gaulle thân Anh, và ngay giai đoạn này ông được bầu làm người lănh đạo trong chính phủ lâm thời. Đây là thành phần đang đương đầu với làn sóng đỏ. Ngay cả trong cuộc họp tại San Francisco diễn ra từ 4/1945 -6/1945 qui tụ 50 quốc gia, Georges Bidault đại diện phái đoàn Bộ Ngoại Giao Pháp, người của de Gaulle, đă yêu cầu Hoa Kỳ cho Pháp trở về Việt Nam. Sự vận động này kéo dài tới hội nghị Potsdam vào 7/1945.

 

Như trên, HCM biết phe Anh và Pháp sẽ trở về miền Nam Việt Nam với lư do đánh cộng nên đă quả quyết làm ra chiến tranh, dù giết hết cả  dân Việt Nam (đàn ông, đàn bà, trẻ con sẽ trở thành tro bụi nếu Pháp trở về Việt Nam theo chính sách của Hồ là “tiêu thổ tới cùng”).

 

Xin xem thêm: Pháp Tái Chiếm Đông Dương

http://truehochiminh.wordpress.com/2014/03/15/phap-tai-chiem-dong-duong/

Khi thấy quân Pháp và Anh ở miền Nam dẹp cộng th́ ngoài Bắc Hồ và tập đoàn tuyên truyền Pháp trở về “thực dân” lần nữa. Lời rao giảng này không ít người nghe theo. Họ là những thành phần yêu nước, không phải cộng sản, mà trước đó đă chống Pháp thực dân, những tưởng sau ngày 9/3/1945 Nhật đảo chánh Pháp là Pháp đă ra đi vĩnh viễn.

 

Bà Lê Thị Anh, người đă từng cùng nhóm trí thức miền Nam hợp tác với HCM “chống Pháp thực dân”, “chống Mỹ cứu nước” đă thức tỉnh và “sáng mắt” hơn sau 30/4/1975.

 

My uncle, Le Van Thuan, was a doctor who worked with a woman doctor named Nguyen Ngoc Suong. They were not communists. Dr. Suong spoke English, so she and my uncle were members of the delegation that went to see General Gracey. The delegation wanted the British to recognize us as the legal government and not help the French to retake Vietnam.

I still remember waiting in Dr. Suong’s home. When she came back from the meeting with Gracey she was crying. She said, “The British say it’s not possible. General Gracey said that we have to negotiate with the French for our independence. The British are going to help the French reestablish order. We have no choice but to take arms and fight.

(To Bear Any Burden, Al Santoli, page 33)

 

Cậu của tôi, Lê Văn Thuận, là một bác sĩ ông làm việc với một nữ bác sĩ tên Nguyễn Ngọc Sương. Họ không phải cộng sản. Dr. Sương nói tiếng Anh, bà và cậu tôi là thành viên của đoàn đại biểu đến gặp ông Tướng Gracey. Phái đoàn muốn người Anh công nhận chúng tôi là một chính phủ hợp pháp và không giúp người Pháp tái chiếm Việt Nam.

 

Tôi vẫn nhớ là chờ đợi tại nhà Dr. Sương. Khi bà trở lại từ buổi gặp mặt với ông Gracey, bà khóc. Bà nói “Người Anh nói không thể được. Tướng Gracey nói rằng chúng ta phải thương lượng với Pháp về độc lập của chúng ta.” Người Anh đang sắp giúp người Pháp thiết lập lại chế độ. Chúng tôi không c̣n lựa chọn nhưng phải dùng vũ khí và chống lại.

 

Lúc này họ vẫn c̣n là cùng phe với cộng sản miền Bắc với quyết tâm “chống thực dân”. Họ nghĩ rằng HCM là “đồng minh” với Hoa Kỳ mà tổng thống Roosevelt th́ đang có chính sách trả thuộc địa áp dụng cho các nước thực dân. Họ nghĩ rằng Stalin là cộng sản đàn anh của Hồ cũng là “đồng minh” với Hoa Kỳ. Vậy th́ hợp tác với cộng sản để chống “thực dân” cũng là hợp lư. Những ư tưởng này được xâm nhập mạnh mẽ đa phần là do những tấm h́nh cán bộ cộng sản từ Bắc mang vào Nam để tuyên truyền – h́nh HCM chụp chung với nhân viên OSS khi được mướn làm t́nh báo để chống Nhật, h́nh tướng Mỹ Claire Chennault với chứ kư tặng HCM, h́nh Stalin ngồi chụp chung với phe đồng minh chống phát xít Đức, v.v..

 

Và dĩ nhiên đến giai đoạn de Gaulle mất quyền và quốc hội Pháp lọt vào tay Đảng Xă Hội và Cộng Sản th́ toàn dân Việt Nam không được thông tin. Sự qua lại từ 2/1946 -3/1946 giữa Pháp cộng sản và HCM đă đi đến Hiệp Ước Sơ Bộ kư vào 6/3/1946, mà người ta gọi là HCM bán nước cho cộng sản Pháp. Nhóm bà Lê Thị Anh vẫn một ḷng một dạ với Hồ.

 

The communists had organized in the resistance with us. We fought together and regarded them as comrades in arms. But sometimes in the middle of the night they would tell us, “Hold the area.” And they would leave to indicate to the French where our nationalist positions were. The communists betrayed us at all the time. Ho Chi Minh’s people began to kill off all of the strong non-communist leaders and Trotsky communists in the resistance. (To Bear Any Burden, Al Santoli, page 36)

 

Những người cộng sản đă tổ chức sự kháng cự với chúng tôi. Chúng tôi cùng nh́n họ như là bạn đồng hành. Nhưng đôi khi vào khoảng nửa đêm họ nói với chúng tôi “Hăy cố giữ vùng đất này.” Và họ rời nơi đó để chỉ điểm cho người Pháp chỗ nào những người quốc gia đang đóng. Những người cộng sản đă phản bội chúng tôi luôn luôn. Những người của HCM bắt đầu giết tất cả những lănh đạo không phải cộng sản mà có tầm vóc, và những thành phần kháng cự trong nhóm cộng sản Trotsky.

 

Họ thắc mắc tại sao cộng sản nói rằng chống Pháp mà lại cùng với Pháp sát hại người quốc gia, chứ đâu biết rằng có 2 khối người Pháp, một ở bên Pháp mẹ đang bị cộng sản nắm quyền mà HCM đang hợp tác, và một khối ở Đông Dương chống cộng. Ở miền Bắc th́ Vơ Nguyên Giáp chỉ điểm và xin viện trợ trọng pháo từ đại tá Grépin để tấn công các chiến khu của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Giáp đă tạo ra hiện tượng Ôn Như Hầu để Việt Nam Quốc Dân Đảng bị mang tiếng và phe Giáp được dịp cùng Pháp tàn sát người quốc gia.

 

Bà Lê Thị Anh du học Hoa Kỳ từ 1964 -1971. Trong giai đoạn này bà cũng đă gia nhập phong trào phản chiến . Sau đó bà ư thức ra sự sai lầm của bà và cho rằng quốc hội Hoa Kỳ đă là nguyên nhân chính làm mất miền Nam v́ đă cắt viện trợ.

 

Trương Như Tảng, một trong hằng ngàn người miền Nam, là nạn nhân của chủ trương lừa bịp đến sau 30/4/1975 mới nhận biết ra. Cái gọi là “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam” do cộng sản miền Bắc dựng ra những tưởng rằng sau khi “đánh Mỹ cút ngụy nhào” sẽ được hưởng quyền hành ǵ đó do miền Bắc ban cho.

 

I was not communist… I would not listen when my father warned me, “In return for your services, the communists will not even give you a part of what you have now. Worse, they will betray you and persecute you all of your life.” But I was adamant, because the North Vietnamese insisted that they never wanted to impose communism on the South. We were, in fact, dependent on the North Vietnamese for weapons, communications, and especially for our propaganda network. And our movement was reinforced by troops coming from North Vietnam. (To Bear Any Burden, Al Santoli, page 77)

 

Tôi không phải người cộng sản…Tôi đă không nghe khi ba tôi cảnh cáo tôi “ Sự đền đáp lại cho những phục vụ của con là những người cộng sản ngay cả họ sẽ không cho con một chút của những ǵ con đang có bây giờ. Trầm trọng hơn nữa, họ sẽ phản bội con và ngược đăi con suốt đời.” Nhưng tôi đă cứng rắn, bởi v́ miền Bắc đă khẳng định rằng họ không bao giờ muốn áp đặt chủ nghĩa cộng sản ở miền Nam. Chúng tôi thực tế là đă lệ thuộc vào miền Bắc về vũ khí, thông tin, và đặc biệt là mạng lưới tuyên truyền. Và phong trào của chúng tôi được củng cố bởi những đoàn quân từ miền Bắc.

 

Trương Như Tảng tin những lời hứa hẹn của người cộng sản. Cộng sản có truyền thống nói dối,ngay cả họ là thành phần lănh đạo trước những buổi họp quốc tế. Trang đầu của quyển sách, tác giả Santoli đă đề cập ngay những lời nói cần ghi nhận.

 

For the fifth time we have declared clearly that the DRV government (Hanoi) and the PRG (Viet Cộng) have never wished to force a Communist government on South Vietnam. ( Le Duc Tho, Paris peace talks, 1972.)  Đây là lần thứ năm chúng tôi tuyên bố rằng chính phủ Hà Nội và Việt Cộng không bao giờ muốn áp đặt một chính quyền cộng sản ở Nam Việt Nam. (Lê Đức Thọ tuyên bố tại hội đàm ḥa b́nh, Paris, 1972).

 

Cho rằng bởi thiếu thông tin mà người miền Nam không biết rằng người dân miền Bắc cũng bị HCM áp đặt chế độ cộng sản, cũng như buổi bầu cử quốc hội vào 1946 chỉ là tṛ lừa mị mà thôi. Cả một xă hội thối nát đầy những bất công, cai trị bằng bạo lực làm người người ngao ngán. Khoảng một triệu đồng bào miền Bắc di cư vào vùng đất tự do năm 1954 không là một kinh nghiệm sống thực về cộng sản hay sao, thế mà Trương Như Tảng, Huỳnh Tấn Phát, Phùng Văn Cung, Trịnh Đ́nh Thảo c̣n lư tưởng? May thay c̣n có những kẻ sáng suốt như người cha của Tảng. Dù sao làn sóng cộng sản bùng dậy nhiều chỗ không chỉ ở Việt Nam, nhất là những nơi dân trí thấp kém dễ bị đầu độc, c̣n trí thức như nhóm của Tảng th́ dễ tin, lăng mạn mơ hồ hay sao? Cuối cùng th́ tất cả đều bị cộng sản lừa gạt!

 

Cộng sản đă và đang mị dân, đă và đang bán nước buôn dân kể từ ngày có hai chữ “cộng sản” xuất hiện ở Việt Nam. Ngày Quốc Hận 30/4 của toàn dân Việt th́ họ lại ăn mừng với những lời xuyên tạc lịch sử. Họ c̣n nắm quyền hành nhờ vào bạo lực với tuyên truyền. Hitler đă nói “Nếu anh nói một cái láo lớn và tiếp tục nói thường xuyên, nó sẽ trở thành được người ta tin”. HCM cũng đă dùng những lời này làm phương châm dạy cán bộ. Chúng ta không muốn chủ trương tẩy năo c̣n tiếp tục nên phải có nhiều nguồn thông tin tràn về Việt Nam bằng nhiều cách.

 

 

Bút Sử

 

Sources: To Bear Any Burden, Al Santoli, 1985; Why Vietnam, Archimedes Patti, 1980; Ho Chi Minh, A Political Biography, 1968, Jean Lacouture.

 

 

 

 

Trang Chính     Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Phỏng Vấn     Văn Học Nghệ Thuật     Tham Khảo