Nhớ nhà

 

…Tôi muốn viết thật rơ, hét thật to, ư nghĩ thật trong sáng: Tôn chỉ của dân VNCH, của QLVNCH, của chính phủ VNCH là TÔN TRỌNG CON NGƯỜI, cách hành sự chứa đầy t́nh người...”

 

Bs. Nguyễn Sơn Đông

 

 

Pourquoi le prononcer ce nom de la patrie?

Dans son brillant exil mon coeur en a frémi

II résonne de loin dans mon âme attendrie,

Comme les pas connus ou la voix d’un ami.

(Alphonse de LAMARTINE – “Milly ou la terre natale”)

 

Tôi muốn đổi chữ “brillant” (sự chiếu sáng) thành “douloureux” (sự đau khổ) v́ trốn chui, trốn nhủi, vượt biên c̣n thua con chó đói, th́ có ǵ gọi là “brilliant.” Nhưng lại sợ mang tội với Lamartine, lại sợ thừa một “pied” (syllable / “âm?”).

 

Tôi là một thằng “lăn chai.”  Lúc nhỏ suốt ngày ở ngoài đồng, lội hết mương nầy đến rạch kia. Tôi không phải đi chăn trâu, nhưng tôi cỡi trâu “nghề” lắm. Leo lên lưng trâu đâu có dễ. Tôi mới sáu, bảy tuổi, đứng vừa qua khỏi ngang nửa bụng trâu, mà trâu đâu có qùy “mọp” xuống như voi cho ḿnh leo lên bao giờ. Vậy mà thằng tui phóng một cái “rẹc” lên ngang hông trâu cũng được; kẹp “đầu gối” (trâu?) trước cũng xong, mà phăng lên bằng đầu gối sau cũng “phẻ re” hay kéo đuôi cũng “im rơ.”  Trâu tốt hơn “người ta” ở chỗ trâu không khi nào “đá gị lái,” không “đá ngược” lại bạn bè.

 

Nắng, mưa tôi có coi ra ǵ đâu? Mưa xối xả, mưa nặng hột… tắm mưa càng vui hơn!  Tắm đến chừng da tái mét, run lập cập mới thôi. Chỉ một lát sau – có khi cả giờ nữa – nắng lên, khô queo, … th́ lại lội nữa.

 

Tụi chăn trâu “nhà nghề” chỉ tôi đủ thứ hết như:

 

– Làm sao “cột dàm” con nghé để nó khỏi ăn mạ. Tụi nó nói người ta (chủ ruộng) vác chổi chà mà đập mầy đó chứ họ không đập trâu đâu; v́ chổi chà có thắm thía ǵ với nó?! 

 

– Nh́n dấu ở cửa hang là biết có cua ở nằm trỏng hay không? Loại cua lớn hay cua “nghé” (cua con, loại này kẹp đau lắm)? 

 

– Bắt cá bống kèo th́ phải dùng một chân chận cái ngách nó lại.

 

– Câu cá trê phải sửa soạn mồi trước: Đập mấy con ốc bươu, để qua bữa sau có mùi hôi hôi là cá trê nó đớp nhanh lắm.

 

– Xúc cá ṛng ṛng coi chừng bị cá mẹ táp cẳng, v́ bênh con… (Ṛng ṛng là cá lóc con, cỡ 1/2 ngón tay út, kho tộ mặn mặn, cay cay… ngon hơn “caviar” nữa. Mà tôi có bao giờ được ăn “caviar” bao giờ đâu mà nói xạo vậy!).

 

– Nh́n “Bọt trắng nhuyễn” trên mặt mương là biết ngay bọt nào là ổ cá ch́a vôi? Bọt nào là ổ cá “xiêm”?  Loại cá lia thia xanh mun (cá đá chết bỏ chứ nhứt định không chạy)?

 

Lên Saigon, tôi “lội” gần hết “hang cùng ngỏ hẹp” của quận Tư (sau nầy là đổi quận Năm, v́ tên quận Tư dành cho bên Khánh Hội), chui vào Đại Thế Giới coi hát “cọp”; băng qua cầu chữ Y, vào giang sơn của ông Bảy (Bảy Viễn), đi chen lấn giựt cái “lưỡi” ông Tiêu cúng rằm tháng Bảy.

 

“Nắng Saigon, anh đi mà chợt mát

Bởi v́ em mặc áo lụa Hà Đông…”

(Nguyên Sa – “Áo lụa Hà Đông”)

 

Mà tôi có biết lụa là ǵ đâu? Hà Đông ở đâu đâu? Thôi, tôi chỉ xin phép Nguyên Sa được sửa hai câu thơ lại là:

 

Nắng Saigon, tui đi mà chẳng ngán

Bởi v́ da mốc thích “đui then” rồi.

 

Ra Chasseloup, đến mùa me chín, leo lên “rung” mạnh. Me rụng đầy đầu tụi bạn đứng ở dưới đất. Có đứa hỏi “Thằng nào ở “trển” vậy? Th́ thằng Đông chớ c̣n ai vô đây hè?!

 

Trước Bộ Y Tế có hai cây dừa, trái tṛn, ngọt, thân cây chót vót, lại cũng thằng Đông leo! (Sau 75, tôi vẫn c̣n thấy hai cây nầy, già lăo rồi, chẳng có ai để ư tới làm chi nữa).

 

Vào lính, tôi theo đơn vị hành quân, nhớ từng con suối nhỏ, từng g̣ mối, từng cây cầu khỉ,… nhứt là những nơi “đụng trận” nặng: Lính tử trận. Quan cũng đền nợ nước. Ngày Thứ hai, người vợ trẻ đưa chồng lên Đức Ḥa. Thứ bảy, đă chít khăn tang. Nhưng tôi vẫn thương vẫn nhớ cái quận “nắng bụi, mưa bùn”… nghèo xơ nghèo xác nhưng đầy ấp t́nh người. Hoàng hôn xuống, nghe ễnh ương, nhái bầu, nhái bén, cả bao nhiêu thứ côn trùng ḥa tấu “symphonie pastorale” nghe mà rụng rún, tởn da gà.

 

Giờ đây, lưu lạc xứ người, muốn nghe… cũng có đâu mà nghe hè.

 

“Ḷng quê đi một bước đường một đau…”

(Nguyễn Du – “Kiều”)

 

Tâm trạng nhớ nhà là vậy.

 

Tôi không dám “nghĩ” hoặc “đoán” t́nh cảm của người khác. Riêng với tôi th́: t́nh đầu, t́nh giữa,  t́nh đuôi… t́nh ǵ ǵ đi nữa, th́ với thời gian cũng sẽ khuây khoả, rồi cũng phai, cũng tàn và rồi thuộc về dĩ văng, dù nó “apporte chaque jour tout le bien, tout le mal.

 

Nhưng, nhớ nhà th́ hoàn toàn khác lạ. Như một định luật tự nhiên:  “Tên” nào “lội” nhiều, lăn lóc với “đất nước” nhiều,.. khi về già, cái nhớ nhà càng ray rứt, càng nhức nhối nhiều.

 

Cái khổ là càng muốn quên, lại càng nhớ. Có những đêm thức giấc, nhớ quá, không tài nào ngủ lại được.

 

Nhớ ai, ai đâu mà nhớ. Nhớ NHÀ!

 

Lúc học ở Chasseloup, đọc sách tả cảnh Tour Eiffel, Montparnasse, Les Invalides, Chateaux de la Loire..  tôi náo nức muốn được đến nơi xem lắm. Giờ được đến xem qua rồi th́ lại “thôi.” Nó không “thấm” vào xương, vào tủy, vào tim, vào óc như cái nhớ nhà.

 

“… Quê tôi ch́m chân trời mờ sương

Quê tôi là bao nguồn yêu thương

Quê tôi là bao nhớ nhung se buồn

Là bao vấn vương tâm hồn người bốn phương.”

(Chung Quân – “Làng Tôi”)

 

Chắc tại tôi là đứa “chả giống ai.” Thôi đành chịu vậy.  Mấy trang giấy viết nầy không đầu, không kết, ư tứ nhẩy lung tung, “à bâtons rompus,” “du coq – à – l’âne.” Bà con có xem th́ xin cũng xính xái,” “từ bi hỉ xả dùm cho. Thiện tai! Thiện tai!

 

Thôi th́ cứ xem như:Mémoires d’outre tombe” của tôi vậy.

 

Trước sau ǵ th́ “Cát bụi cũng sẽ về với cát bụi.”

 

QUANDO SATIS DIXISTI, PERISTI

(Quand tu auras dit assez, tu seras mort)

(St, Augustin)

 

“Mai đây trong chuyến tàu vạn cổ

Nếu có người thương đến tiễn đưa

Xin hăy rắc thêm vào huyệt mộ

Chút t́nh hệ lụy núi sông xưa”

(Giang Hữu Tuyên)

 

Đúng làhệ lụy núi sông xưa!

 

“Objets inanimés, avez vous donc une âme

Qui s’attache à notre âme et la force d’aimer”

 

Thôi đành

 

“Nhật mộ hương quan hà xứ thị

Yên ba giang thượng sử nhân sầu “

(Thôi Hiệu – “Hoàng hạc lâu”)

 

Chiều hôm lai láng ḷng quê,

Khói bay sóng vỗ ủ ê nỗi sầu.

(bản dịch của Trần Trọng Kim)

 

Vậy, tôi đă làm được ǵ?

 

* Cho Gia Đ́nh

 

Trả hiếu?

 

– Má tôi mất sớm quá, tôi có nhớ ǵ đâu; nhứt là mấy tháng cuối cùng, mỗi lần tôi muốn tới gần Má tôi, th́ các d́, cô, cậu… (đều ở nhà tôi để săn sóc má tôi) bảo tôi: “Con ra ngoài chơi đi, để má con ngủ,” ngủ yên… Yên Giấc Ngàn Thu (?)

 

– Tôi có làm được ǵ giúp Ba tôi đâu. Chưa xong y khoa, niềm an ủi duy nhứt của tôi là: tôi đă cố hết sức nghe lời Ba tôi.  Dĩ nhiên, đôi lần v́ chuyện nầy, chuyện nọ, chuyện “đâu đâu” làm Ba tôi không vui.

 

– Tôi rất mừng là đă cùng vợ tôi quyết định “sinh tử”: chết th́ chết chung, không thể sống với vc được. Tụi nó không lương tâm, không tim, không óc, không cả t́nh người. Ít nhứt, dung thân ở xứ lạ, không ai ngăn cấm con tôi: “Mầy là con sĩ quan ngụy, không được lên cấp ba.” Đó là nguyên văn của tên “giám hiệu” trường Petrus Kư (tôi không muốn nhắc tên mới của trường) khi đứa con trưởng của tôi học xong lớp 9 (classe de 3è) không được lên lớp 10 (classe de seconde). Bị đuổi học.

 

* Cho Tổ Quốc

 

Xin cho tôi mượn hai câu thơ của một nhà văn “gốc lính”

 

“Cúi đầu tạ với quê hương

Tôi c̣n một nửa đoạn đường chiến binh.”

 

Tôi đă đội trên đầu sáu chữ: DANH DỰ, TỔ QUỐC, TRÁCH NHIỆM. Ngày nào c̣n thở, tôi c̣n tôn thờ. Chỉ khi nhắm mắt th́ trách nhiệm của tôi với tổ quốc VNCH mới kể là hết.

 

Je ne fléchirai pas! Sans plainte dans la bouche,

Calme, le deuil au coeur, dédaignant le troupeau,

Je vous embrasserai dans mon exil farouche,

Patrie, ô mon autel! Liberté, mon drapeau!

(Victor Hugo – Ultima Verba)

 

 

THAY LỜI CUỐI

  

Những ḍng sau đây, tôi xin:

 

– Kính dâng quư Trưởng Thượng, Niên Trưởng đă rời Việt Nam trước 30-04-1975.

 

– Gởi đến thế hệ trẻ, những người chưa “nếm” mùi vc.

 

Tôi dạy vạn vật ở trường Trung học Petrus Kư Saigon từ năm 1963. Lúc bấy giờ, thi Tú Tài 1 và 2 c̣n vấn đáp. Chưa có khi nào tôi hỏi lư lịch thí sinh trước khi cho điểm. Nói chung, trong suốt lịch tŕnh thi, tất cả Giáo sư đều xử sự như thế.

 

Tết Mậu Thân, con đường tiếp liệu (y dược, y cụ…) của đơn vị tôi bị vc (đă chiếm Vinatexco, Vifon, và các hăng kế cận) đóng chốt. Tôi phải liên lạc với cố vấn Mỹ của đơn vị tôi, và tŕnh với cố vấn trưởng (cố vấn cho Tư Lệnh Sư Đoàn) cho phép tôi dùng trực thăng riêng của ông về lấy thêm tiếp liệu ở căn cứ 73 tồn trữ y dược, nhứt là bông, băng, băng cá nhân, nước biển và thuốc trụ sinh…

 

Trớ trêu thay, người thương binh đầu tiên được truyền chai nước biển “nóng hổi” vừa được trực thăng mang về là một tên vc..

 

Trong hơn bốn năm trấn đóng ở Đức Ḥa, tôi đă gọi tản thương bằng trực thăng về Tổng Y Viện Cộng Ḥa cho ít nhứt là mười lính vc bị thương nặng. Không tản thương th́ chắc chắn 100% chúng đi “chầu Bác” rồi.

 

Dù mưa, dù nắng, một giờ khuya, hai giờ sang…  chưa lần nào phi hành đoàn hỏi tôi tản thương lính nào vậy? QLVNCH hay vc? Tất cả đơn vị Quân Y QLVNCH đều làm như thế.

 

Tôi muốn viết thật rơ, hét thật to, ư nghĩ thật trong sáng: Tôn chỉ của dân VNCH, của QLVNCH, của chính phủ VNCH là TÔN TRỌNG CON NGƯỜI, cách hành sự chứa đầy t́nh người.

 

Sau 30/04/1975, bọn khát máu chóp bu vc đă ra lệnh phá tan nát xă hội miền Nam, mà nền tảng là gia đ́nh.  Bao nhiêu gia đ́nh sĩ quan QLVNCH, viên chức VNCH bị gây áp lực đến đổ vỡ.

 

Bao nhiêu dân miền Nam bị lừa gạt, rồi bị ép tử, bỏ cho chết, chết đói, chết v́ bệnh tật,… ở những khu gọi là kinh tế mới…  Bao nhiêu thanh thiếu niên “con ngụy” bị ép buộc qua Miên làm bia đỡ đạn cho vc.

 

Bao nhiêu trăm ngàn người VNCH đă thiệt mạng trên đường t́m tự do, thoát ách vc.

 

Trong mấy ngàn năm lịch sử dân tộc, có lần nào mà người dân Việt Nam, vốn rất gắn bó với “quê cha đất tổ,” với “mồ mả ông bà” liều chết, bỏ nước ra đi t́m tự do đông đến số hàng triệu.

 

Tôi viết để quư vị trưởng thượng và thế hệ trẻ hiểu được mức độ khát máu, tàn ác, vô nhân đạo, đầy thú tính của vc.

 

Riêng cá nhân tôi, tôi không thù hằn vc v́:

 

1- Tôi đă hấp thụ nền giáo dục nhân bản miền Nam.

 

2- vc không xứng đáng để tôi thù hằn, v́ vc đă mất hẳn tính và t́nh người.

 

Tôi rất cám ơn, thương mến, kính yêu “bà xă” tôi đă chịu bao nhiêu cay đắng, cực khổ tảo tần giữ vững gia đ́nh, lo cho bốn đứa con tôi.

 

Hiện giờ, chúng là công dân đơn thuần (simple citoyen) của quốc gia tạm cư, không là “quan to, quan bé” ǵ hết; nhưng, người ta đă đối xử với chúng tôi rất ấm áp t́nh người.

 

  

BS. Nguyễn Sơ Đông

 

Sơ lược tiểu sử tác giả

 

Bác Sĩ Nguyễn Sơ Đông:

– Học sinh tại trường Chasseloup Laubat (Jean Jacques Rousseau) và sinh viên trường Đại Học Y Khoa Sài g̣n ngày xưa.

– Ra trường và đi lính. Làm Y Sĩ Trưởng Sư Đoàn 25.

– Sau 75, đi tù CS. khi về cùng vợ con liều mạng vượt biên qua ngả Biển Đông và định cư tại Mỹ.

– Con trai thứ của BS Đông là Bác Sĩ Nguyễn Đông Quan, giáo sư giải phẫu Nhăn Khoa Đại Học John Hopkins, đă làm chủ tịch Y Sĩ Đoàn Hoa Kỳ trong 2 nhiệm kỳ. Trong thời kỳ làm chủ tịch Y Sĩ Đoàn, BS Đông Quan – cùng với BS Jonathan Lâm – đă thành lập chương tŕnh “Ambassador Health” mỗi năm về các vùng hẻo lánh của Việt Nam, giải phẫu, điều trị cho cả ngàn người bệnh thiếu phương tiện điều trị, hay không có tiền đút lót để được vào nhà thương điều trị tại Việt Nam. Thành quả nhân đạo BS Đông Quan & Jonathan Lâm và bạn hữu đă gặt hái được, là một điểm son cho thế hệ thứ 2 của cộng đồng Việt Nam hải ngoại.

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính